Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

[MỜI HỢP TÁC] Các kỳ thi Olympic Quốc tế 2026 (IMO - IEO - ISO)

Kính gửi Quý Lãnh đạo, Ban Giám hiệu và Quý Thầy/Cô, FermatTech (Đối tác Google tại VN) phối hợp cùng SCO Ấn Độ trân trọng kính mời tham gia 3 kỳ thi uy tín dành cho HS từ lớp 1 - 12: - IMO: Olympic Toán Quốc tế. - IEO: Olympic Tiếng Anh Quốc tế. - ISO: Olympic Khoa học...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Biển & Đảo Việt Nam

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Văn Trung (trang riêng)
Ngày gửi: 13h:17' 02-04-2009
Dung lượng: 4.3 MB
Số lượt tải: 186
Số lượt thích: 0 người
TỔ: SỬ - ĐỊA - GDCD
Biên soạn: Trần Văn Trung
1. Vùng biển Việt Nam
Diện tích biển nước ta khoảng 1 triệu km2
Một số khái niệm: Công ước Liên hiệp quốc về luật biển
Đường cơ sở: Thông thường, một đường biển cơ sở chạy theo đường bờ biển khi thủy triều xuống, nhưng khi đường bờ biển bị hụt sâu, có đảo ven bờ, hoặc đường bờ biển rất không ổn định, có thể sử dụng các đường thẳng làm đường cơ sở).
Đường cơ sở thẳng
Được xác định theo phương pháp nối liền các điểm thích hợp được
lựa chọn tại những điểm ngoài cùng nhất nhô ra biển tại mức nước thủy triều thấp nhất (trung bình nhiều năm).
Theo Công ước 1982 thì đường cơ sở thẳng phải tuân thủ quy định là không đi chệch quá xa hướng chung của bờ biển và các vùng biển nằm bên trong các đường cơ sở này phải có liên quan đến phần đất liền đủ để có thể coi như vùng nằm dưới chế độ nội thủy
Đường cơ sở thông thường

Là ngấn nước thủy triều thấp nhất (trung bình nhiều năm) dọc theo bờ biển đã được thể hiện trên các hải đồ có tỷ lệ xích lớn đã được quốc gia ven biển chính thức công nhận. Đối với các đảo san hô hay đảo có đá ngầm ven bờ bao quanh, phương pháp này cũng được áp dụng. Ưu điểm của phương pháp này là phản ánh đúng đắn hơn đường bờ biển thực tế của các quốc gia, hạn chế sự mở rộng các vùng biển thuộc quyền tài phán của họ. Hạn chế của nó là khó áp dụng trong thực tế, nhất là đối với các vùng có bờ biển khúc khuỷu.
Ranh giới vùng nước lịch sử
Việt Nam và Campuchia
Hòn Nhạn: Thổ Chu
Hòn Đá Lẻ: ĐN Hòn Khoai
Hòn Tài Lớn – Bông Lang –
Bảy Cạnh: Côn Đảo
Hòn Hải: Phú Quý
Hòn Đôi – Mũi Đại Lãnh:
Khánh Hoà
Hòn Ông Căn: Bình Định
Đảo Lý Sơn: Quảng Ngãi
Đảo Cồn Cỏ: Quảng Trị
Bao phủ tất cả vùng biển và đường thủy ở bên trong đường cơ sở (phía đất liền). Tại đây, quốc gia ven biển được tự do áp đặt luật, kiểm soát việc sử dụng, và sử dụng mọi tài nguyên. Các tàu thuyền nước ngoài không có quyền đi lại tự do trong các vùng nội thủy.
Vùng nằm ngoài đường cơ sở có chiều ngang 12 hải lý. Tại đây, quốc gia ven biển được quyền tự do đặt luật, kiểm soát việc sử dụng, và sử dụng mọi tài nguyên. Các tàu thuyền nước ngoài được quyền "qua lại không gây hại“ mà không cần xin phép nước chủ. Đánh cá, làm ô nhiễm, dùng vũ khí, và do thám không được xếp vào dạng "không gây hại". Nước chủ cũng có thể tạm thời cấm việc "qua lại không gây hại" này tại một số vùng trong lãnh hải của mình khi cần bảo vệ an ninh.
Bên ngoài giới hạn 12 hải lý của lãnh hải là một vành đai có bề rộng 12 hải lý, đó là vùng tiếp giáp lãnh hải. Tại đây, nước chủ có thể vẫn thực thi luật pháp của mình đối với các hoạt động như buôn lậu hoặc nhập cư bất hợp pháp.
Rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở.
Trong vùng này, quốc gia ven biển được hưởng độc quyền trong việc khai thác đối với tất cả các tài nguyên thiên nhiên.
Khái niệm vùng đặc quyền kinh tế được đưa ra để ngừng các cuộc xung đột về quyền đánh cá, tuy rằng khai thác dầu mỏ cũng đã trở nên một vấn đề quan trọng.
Trong vùng đặc quyền kinh tế, nước ngoài có quyền tự do đi lại bằng đường thủy và đường không, tuân theo sự kiểm soát của quốc gia ven biển. Nước ngoài cũng có thể đặt các đường ống ngầm và cáp ngầm.
Được định nghĩa là vành đai mở rộng của lãnh thổ đất cho tới mép lục địa, hoặc 200 hải lý tính từ đường cơ sở, chọn lấy giá trị lớn hơn. Thềm lục địa của một quốc gia có thể kéo ra ngoài 200 hải lý cho đến mép tự nhiên của lục địa, nhưng không được vượt quá 350 hải lý, không được vượt ra ngoài đường đẳng sâu 2500m một khoảng cách quá 100 hải lý. Tại đây, nước chủ có độc quyền khai thác khoáng sản và các nguyên liệu không phải sinh vật sống.
Phạm vi các vùng biển
Theo luật biển quốc tế 1982
2. Các đảo và quần đảo
Việt Nam
Có khoảng 3000 hòn đảo lớn nhỏ
- Có 12 huyện đảo
Các huyện đảo Việt Nam
Tỉnh Quảng Ninh
1. Vân Đồn
Vịnh Bái Tử Long
Vân Đồn có 12 đơn vị hành chính
gồm thị trấn Cái Rồng và 11 xã
Diện tích tự nhiên 59.676 ha
Dân số khoảng 45.000 dân
Nền kinh tế chủ yếu là kinh tế biển và khai khoáng bao gồm: nuôi trồng và đánh bắt hải sản, trồng và khai thác lâm nghiệp, dịch vụ du lịch biển, khai thác than, đá vôi, cát trắng, sắt, vàng sa khoáng. Nông nghiệp trồng trọt thì nhỏ bé.
2. Cô Tô - Chàng Sơn (Núi Chàng)
Cô Tô là tên một quần đảo phía đông
của đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
Diện tích 3850 km²
Dân số 5240 người
Có nhiều loại dược quí hiếm như hương nhu, sâm đất, thầu dầu tía... trên các đảo.
Động vật rừng từ xa xưa khá nhiều nay ở đảo Thanh Lân còn có đàn khỉ vàng chừng 100 con.
1. Cát Hải
Gồm 2 thị trấn và 10 xã
Diện tích gần 300 km².
Dân số 8.400 người
Cát Bà, còn gọi là đảo Ngọc, là hòn đảo lớn nhất trên tổng số 1.969 đảo trên vịnh Hạ Long. Theo truyền thuyết địa phương thì tên Cát Bà còn được đọc tên Các Bà. Vì có một thời các bà, các chị ở đây đứng ra lo việc hậu cần cho các ông đánh giặc trên một hòn đảo lân cận. Đảo có tên là đảo các Ông. Như vậy, Cát Bà là đọc chệch của các Bà.
Gần 60 loài đã được coi là các loài đặc hữu và quý hiếm đã được đưa vào Sách đỏ Việt Nam như các loài động vật: ác là, quạ khoang, voọc đầu vàng, voọc quần đùi trắng và các loài thực vật như chò đãi, kim giao (Podocarpus fleurii), lá khôi (Ardisia spp.), lát hoa (Chukrasia tubularis), dẻ hương, thổ phục linh, trúc đũa, sến mật.
Diện tích vào khoảng 2,5 km² khi có thủy triều lên và khoảng 4 km² khi thủy triều xuống.
Đảo có một vị trí quan trọng trong việc mở rộng các vùng biển và phân định biển Vịnh Bắc Bộ. Ngoài ra, đảo còn nằm trên một trong 8 ngư trường lớn của Vịnh, có một vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, an ninh - quốc phòng biển của Việt Nam ở Vịnh Bắc Bộ.
Cồn Cỏ (còn gọi là Hòn Cỏ, Con Cọp, Hòn Mệ...)
Diện tích của đảo trước đây gần 4 km², nay khoảng 2,2 km².
Theo các nhà khảo cổ học với những phát hiện mới nhất, ở khu vực Bến Nghè của đảo đã tìm thấy nhiều công cụ đá của con người thời đá cũ cách đây hàng vạn năm. Trong thời gian của những thế kỷ đầu Công nguyên,
Cồn Cỏ đã từng là địa bàn cư dân Chămpa đặt chân đến
Hoàng Sa
Cách thành phố Đà Nẵng khoảng 315 km, Cách Cù lao Ré (đảo Lý Sơn) của Việt Nam khoảng 200 km và cách đảo Hải Nam của Trung Quốc khoảng 230 km.
Diện tích: 305 km²
Trong vùng biển rộng khoảng 15.000 km2
Khánh Hoà
Trường Sa
Quần đảo Trường Sa là một dãy hơn 100 đảo lớn nhỏ, bãi gầm, bãi đá san hô nằm lập lờ hoặc nhô lên khỏi mặt nước, khi thủy triều xuống thấp, bao bọc một vùng biển rộng ước chừng 160.000 đến 180.000 km².
Quảng Ngãi
Lý Sơn - Cù Lao Ré
Diện tích khoảng 9,97 km²
Dân số hơn 20.000 người
Hòn đảo là vết tích còn lại của một núi lửa đã tắt từ thời tiền sử
Người dân trên đảo sống nhờ vào đánh bắt hải sản và trồng tỏi
Bình Thuận
Phú Quý (còn gọi là cù lao Thu hay cù lao Khoai Xứ)
Diện tích 16 km².
Cua huỳnh đế là đặc sản của vùng biển Bình Thuận, nhất là tại Phú Quý. Cua huỳnh đế có màu đỏ hồng, mai hình vuông, càng và que ngắn. Ðặc biệt, đầu cua dài và có nhiều râu...Ăn rất ngon và thơm có lẽ chỉ có tại Phú Quý.

Dân số 24.000 người

Bà Rịa – Vũng Tàu
Côn Đảo (Sử Việt trước thế kỷ 20 thường gọi đảo Côn Sơn là đảo Côn Lôn)
Tổng diện tích 76 km².
Hiện nay Côn Đảo là một huyện có chính quyền một cấp, thông qua các cơ quan chức năng huyện, trực tiếp đến địa bàn dân cư, không có các cấp phụ thuộc như xã, phường hay thị trấn
Dân số 4.466 người
Kiên Giang
Phú Quốc
Tổng diện tích 593,05 km²
Phú Quốc được chia thành 8 xã,
2 thị trấn
Dân số 79.800người


3. Các tài nguyên của biển Việt Nam
- Tài nguyên sinh vật
Hải sản: Ở vùng biển nước ta đến nay có khoảng 2.040 loài cá gồm nhiều bộ, họ khác nhau, trong đó có giá trị kinh tế cao khoảng 110 loài. Trữ lượng cá ở vùng biển nước ta khoảng 3 triệu tấn/năm.
Rong biển: Trên biển nước ta có trên 600 loài rong biển là nguồn thức ăn có dinh dưỡng cao và là nguồn dược liệu phong phú.



Các ngư trường lớn

Tài nguyên khoáng sản
Khoáng sản: Dưới đáy biển nước ta có nhiều khoáng sản quý như: thiếc, ti tan, đi-ri-con, thạch anh, nhôm, sắt, măng gan, đồng, kền và các loại đất hiếm.
Muối ăn chứa trong nước biển bình quân 3.500gr/m2.


Dầu mỏ: Vùng biển Việt Nam rộng hơn l triệu km2 trong đó có 500.000km2 nằm trong vùng triển vọng có dầu khí.
Trữ lượng dầu khí ngoài khơi miền Nam Việt Nam có thể chiếm 25% trrữ lượng dầu dưới đáy biển Đông.
Có thể khai thác từ 30-40 ngàn thùng/ngày (mỗi thùng 159 lít) khoảng 20 triệu tấn/năm. Trữ lượng dầu khí dự báo của toàn thềm lục địa Việt Nam khoảng 10 tỷ tấn quy dầu.
Ngoài dầu Việt Nam còn có khí đốt với trữ lượng khoảng ba nghìn tỷ m3/năm.


Tài nguyên du lịch
Bờ biển dài có nhiều bãi cát, vụng, vịnh, hang động tự nhiên đẹp, là tiềm năng du lịch lớn của nước ta.

GTVT biển
Giao thông: Bờ biển nước ta chạy dọc từ Bắc tới Nam
theo chiều dài đất nước, với 3.260km bờ biển có nhiều cảng, vịnh…
rất thuận liện cho giao thông, đánh bắt, hải sản.
Nằm liên trục giao thông đường biển quốc tế từ
Thái Bình Dương sang Đại Tây Dương, trong tương lai sẽ là tiềm năng cho ngành kinh tế dịch vụ trên biển
(đóng tàu, sửa chữa tàu, tìm kiếm cứu trợ, thông tin dẫn dắt...).


4. Vấn đề hợp tác và giải quyết với các nước láng giềng về biển Đông
"Lập trường của Việt Nam về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là rõ ràng. Trong quá trình tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài cho các tranh chấp đối với hai quần đảo này, Việt Nam cho rằng các bên liên quan cần tuân thủ Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 và Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), không nên có hành động làm phức tạp thêm tình hình, góp phần duy trì hòa bình, ổn định và hợp tác ở khu vực".
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Dũng cho biết:
 
Gửi ý kiến

↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT  ↓