Bài 6. Đọc mở rộng theo thể loại: Chạy giặc

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hồ Hoàng Gia
Ngày gửi: 18h:13' 22-01-2026
Dung lượng: 7.0 MB
Số lượt tải: 51
Nguồn:
Người gửi: Hồ Hoàng Gia
Ngày gửi: 18h:13' 22-01-2026
Dung lượng: 7.0 MB
Số lượt tải: 51
Số lượt thích:
0 người
1. Xác định thể loại đang học ở bài 6 sách CTST.
A. Truyện ngắn
C. Thơ Đường luật
B. Thơ lục bát
D. Tản văn
2. Thơ thất ngôn bát cú và thơ tứ tuyệt là các thể thơ
thuộc thời đại nào của Trung Quốc?
A. Thời Ngô
B. Thời Tống
C. Thời Nam Hán
D. Thời Đường
3. Đâu là trình tự của các phần trong bố cục
một bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật ?
A. Đề, luận, kết, thực
B. Đề, thực, luận, kết
C. Đề, luận, thực, kết
D. Đề, thực, kết, luận
4. Đâu là trình tự của các phần trong bố cục một
bài thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật ?
A. Khai, chuyển, thừa, hợp
B. Thừa, khai, hợp, chuyển
C. Thừa, hợp, chuyển, khai
D. Khai, thừa, chuyển, hợp
5. Thể thơ thất ngôn bát cú là bài thơ gồm?
A. tám câu, mỗi câu có bảy chữ
C. bảy câu, mỗi câu có tám chữ
B. sáu câu, mỗi câu có bảy chữ
D. bốn câu, mỗi câu có tám chữ
6. Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt là bài thơ gồm?
A. bốn câu, mỗi câu có sáu chữ
B. bốn câu, mỗi câu có năm chữ
C. bốn câu, mỗi câu có bảy chữ
D. bốn câu, mỗi câu có chín chữ
I. Trải nghiệm cùng văn bản
1.TÁC GIẢ
• Nguyễn Đình Chiểu (chữ Hán: 阮廷炤 ; 1822 - 1888), tục gọi là cụ
đồ Chiểu (khi dạy học), tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối
Trai (sau khi bị mù), là một nhà thơ lớn của Nam Kỳ trong nửa cuối
thế kỷ 19. Vào ngày 24/11/2021, ông được UNESCO công nhận là
Danh Nhân Văn Hoá Thế Giới. Năm 1990, khu lăng mộ của ông đã
được nhà nước công nhận là Khu di tích lịch sử văn hoá cấp Quốc gia.
Đến năm 2017, khu di tích này tiếp tục được Bộ VH-TT&DL cấp bằng
công nhận Khu di tích văn hoá, lịch sử cấp Quốc gia đặc biệt.
I. Trải nghiệm cùng văn bản
1.TÁC GIẢ
• Năm 1862, sau khi triều đình Huế ký Hòa ước Nhâm Tuất nhượng hẳn ba tỉnh miền
Đông Nam Kỳ là Biên Hòa, Gia Định và Định Tường cho Pháp, Nguyễn Đình Chiểu đã
đưa gia đình rời Cần Giuộc xuống Ba Tri (bấy giờ thuộc tỉnh Vĩnh Long).[3] Vùng đất
Ba Tri khi đó được xem là nơi xa xôi, còn nhiều rừng rậm hoang vu, dân cư còn thưa
thớt.[4] Ông cất được một ngôi nhà lá tại làng An Bình Đông (nay thuộc thị trấn Ba Tri).
[5]
Tại đây, ông tiếp tục dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho người dân. Bên cạnh đó,
Nguyễn Đình Chiểu vẫn liên lạc với các nhà thơ Phan Văn Trị, Huỳnh Mẫn Đạt và đặc
biệt ông thường viết thư từ liên hệ với Trương Định.[6] Giai đoạn này, Nguyễn Đình
Chiểu sáng tác nhiều bài thơ điếu khi hay tin những người quen, bạn bè như ra đi như
khi Trương Định hy sinh (1864), Phan Thanh Giản uống thuốc độc tự tử (1867), thủ
lĩnh khởi nghĩa Phan Ngọc Tòng hy sinh (1868). Hai tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ trận
vong Lục tỉnh và Ngư Tiều y thuật vấn đáp cũng được ông sáng tác trong thời kỳ này.[3]
Nguyễn Đình Chiểu qua đời ngày 24 tháng 5 năm Mậu Tý (3 tháng 7 năm 1888).
Tương truyền, ngày đưa tang ông, cả cánh đồng làng An Bình Đông rợp trắng màu
khăn tang.[7]
I. Trải nghiệm cùng văn bản
2. Đọc
I. Trải nghiệm cùng văn bản
II. Suy ngẫm và phản hồi
Thảo luận trả lời các ý
Nhóm 1: Tìm bố cục bài thơ
Nhóm 2: Chỉ ra đặc điểm thể loại bài thơ
Nhóm 3: Tìm hình ảnh đặc sắc, biện pháp tu từ trong
bài thơ
1. Đặc điểm thể thơ :
a. Bố cục:
Bốn phần: đề – thực – luận – kết.
+ Đề (câu 1 – 2): giới thiệu tình hình đất nước bị giặc Tây
xâm lược.
+ Thực (câu 3 – 4): khắc hoạ chi tiết khung cảnh loạn lạc.
+ Luận (câu 5 – 6): nhìn vấn đề trong một bối cảnh rộng
hơn, sâu sắc hơn.
+ Kết (câu 7 – 8): tình cảm yêu nước, thương dân, lo
lắng cho vận mệnh đất nước.
- Dấu hiệu nhận biết thể thơ:
Số câu: 8; Số chữ trong câu: 7.
+ Niêm: Chữ thứ hai của các câu: câu 1 là “trắc” niêm câu 8 là “trắc”,
câu 2 là “bằng” niêm câu 3 là “bằng”, câu 4 là “trắc” niêm câu 5 là
“trắc”,
câu 6 là “bằng” niêm với câu 7 là “bằng”.
- Vần: hiệp một vần ở các câu 1, 2, 4, 6, 8 (Tây – tay – bay – mây –
này)
- Đối: Câu 3 đối với câu 4, câu 5 đối với câu 6.
- Nhịp: 2/2/3 câu 1, 3, 4, 5, 6 và nhịp 4/3 câu 2, 7, 8 tạo cảm xúc dồn
dập, biến đổi.
b. Hình ảnh: chạy giặc của người dân gợi tả
lơ xơ, dáo dác (từ láy), tan bọt nước, nhuốm màu mây vẽ ra bức tranh
loạn lạc, tang thương với những con người yếu ớt, không nơi nương tựa.
c. Biện pháp tu từ:
- Đảo ngữ câu 3, 4, 5, 6 nhấn mạnh sự yếu ớt, không nơi nương tựa
của con người trong cảnh loạn lạc.
- Câu hỏi tu từ cuối bài thơ câu trả lời đã nằm ngay trong câu hỏi,
nhấn mạnh ý tác giả dân tộc này cần người có trách nhiệm đứng ra
gánh vác, đối phó với giặc ngoại xâm.
2. Tình cảm, cảm xúc
Tác giả bày tỏ sự lo lắng, thương xót cho người dân, cho
vận mệnh đất nước, đồng thời thể hiện sự thất vọng, sự
trông đợi, sự chất vấn,… đối với những “trang dẹp loạn”,
những người có khả năng và trách nhiệm trước thời cuộc.
*HĐ 3 Luyện tập
Đọc bài thơ – phân tích đặc điểm về thể loại bài thơ
Đã bấy lâu nay, bác tới nhà
Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa
Ao sâu nước cả, khôn chài cá
Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà
Cải chửa ra cây, cà mới nụ
Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa
Đầu trò tiếp khách, trầu không có
Bác đến chơi dây, ta với ta.
*HĐ 4: Vận dụng
Vận dụng Sưu tầm kể tên một số bài thơ Đường luật
A. Truyện ngắn
C. Thơ Đường luật
B. Thơ lục bát
D. Tản văn
2. Thơ thất ngôn bát cú và thơ tứ tuyệt là các thể thơ
thuộc thời đại nào của Trung Quốc?
A. Thời Ngô
B. Thời Tống
C. Thời Nam Hán
D. Thời Đường
3. Đâu là trình tự của các phần trong bố cục
một bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật ?
A. Đề, luận, kết, thực
B. Đề, thực, luận, kết
C. Đề, luận, thực, kết
D. Đề, thực, kết, luận
4. Đâu là trình tự của các phần trong bố cục một
bài thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật ?
A. Khai, chuyển, thừa, hợp
B. Thừa, khai, hợp, chuyển
C. Thừa, hợp, chuyển, khai
D. Khai, thừa, chuyển, hợp
5. Thể thơ thất ngôn bát cú là bài thơ gồm?
A. tám câu, mỗi câu có bảy chữ
C. bảy câu, mỗi câu có tám chữ
B. sáu câu, mỗi câu có bảy chữ
D. bốn câu, mỗi câu có tám chữ
6. Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt là bài thơ gồm?
A. bốn câu, mỗi câu có sáu chữ
B. bốn câu, mỗi câu có năm chữ
C. bốn câu, mỗi câu có bảy chữ
D. bốn câu, mỗi câu có chín chữ
I. Trải nghiệm cùng văn bản
1.TÁC GIẢ
• Nguyễn Đình Chiểu (chữ Hán: 阮廷炤 ; 1822 - 1888), tục gọi là cụ
đồ Chiểu (khi dạy học), tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối
Trai (sau khi bị mù), là một nhà thơ lớn của Nam Kỳ trong nửa cuối
thế kỷ 19. Vào ngày 24/11/2021, ông được UNESCO công nhận là
Danh Nhân Văn Hoá Thế Giới. Năm 1990, khu lăng mộ của ông đã
được nhà nước công nhận là Khu di tích lịch sử văn hoá cấp Quốc gia.
Đến năm 2017, khu di tích này tiếp tục được Bộ VH-TT&DL cấp bằng
công nhận Khu di tích văn hoá, lịch sử cấp Quốc gia đặc biệt.
I. Trải nghiệm cùng văn bản
1.TÁC GIẢ
• Năm 1862, sau khi triều đình Huế ký Hòa ước Nhâm Tuất nhượng hẳn ba tỉnh miền
Đông Nam Kỳ là Biên Hòa, Gia Định và Định Tường cho Pháp, Nguyễn Đình Chiểu đã
đưa gia đình rời Cần Giuộc xuống Ba Tri (bấy giờ thuộc tỉnh Vĩnh Long).[3] Vùng đất
Ba Tri khi đó được xem là nơi xa xôi, còn nhiều rừng rậm hoang vu, dân cư còn thưa
thớt.[4] Ông cất được một ngôi nhà lá tại làng An Bình Đông (nay thuộc thị trấn Ba Tri).
[5]
Tại đây, ông tiếp tục dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho người dân. Bên cạnh đó,
Nguyễn Đình Chiểu vẫn liên lạc với các nhà thơ Phan Văn Trị, Huỳnh Mẫn Đạt và đặc
biệt ông thường viết thư từ liên hệ với Trương Định.[6] Giai đoạn này, Nguyễn Đình
Chiểu sáng tác nhiều bài thơ điếu khi hay tin những người quen, bạn bè như ra đi như
khi Trương Định hy sinh (1864), Phan Thanh Giản uống thuốc độc tự tử (1867), thủ
lĩnh khởi nghĩa Phan Ngọc Tòng hy sinh (1868). Hai tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ trận
vong Lục tỉnh và Ngư Tiều y thuật vấn đáp cũng được ông sáng tác trong thời kỳ này.[3]
Nguyễn Đình Chiểu qua đời ngày 24 tháng 5 năm Mậu Tý (3 tháng 7 năm 1888).
Tương truyền, ngày đưa tang ông, cả cánh đồng làng An Bình Đông rợp trắng màu
khăn tang.[7]
I. Trải nghiệm cùng văn bản
2. Đọc
I. Trải nghiệm cùng văn bản
II. Suy ngẫm và phản hồi
Thảo luận trả lời các ý
Nhóm 1: Tìm bố cục bài thơ
Nhóm 2: Chỉ ra đặc điểm thể loại bài thơ
Nhóm 3: Tìm hình ảnh đặc sắc, biện pháp tu từ trong
bài thơ
1. Đặc điểm thể thơ :
a. Bố cục:
Bốn phần: đề – thực – luận – kết.
+ Đề (câu 1 – 2): giới thiệu tình hình đất nước bị giặc Tây
xâm lược.
+ Thực (câu 3 – 4): khắc hoạ chi tiết khung cảnh loạn lạc.
+ Luận (câu 5 – 6): nhìn vấn đề trong một bối cảnh rộng
hơn, sâu sắc hơn.
+ Kết (câu 7 – 8): tình cảm yêu nước, thương dân, lo
lắng cho vận mệnh đất nước.
- Dấu hiệu nhận biết thể thơ:
Số câu: 8; Số chữ trong câu: 7.
+ Niêm: Chữ thứ hai của các câu: câu 1 là “trắc” niêm câu 8 là “trắc”,
câu 2 là “bằng” niêm câu 3 là “bằng”, câu 4 là “trắc” niêm câu 5 là
“trắc”,
câu 6 là “bằng” niêm với câu 7 là “bằng”.
- Vần: hiệp một vần ở các câu 1, 2, 4, 6, 8 (Tây – tay – bay – mây –
này)
- Đối: Câu 3 đối với câu 4, câu 5 đối với câu 6.
- Nhịp: 2/2/3 câu 1, 3, 4, 5, 6 và nhịp 4/3 câu 2, 7, 8 tạo cảm xúc dồn
dập, biến đổi.
b. Hình ảnh: chạy giặc của người dân gợi tả
lơ xơ, dáo dác (từ láy), tan bọt nước, nhuốm màu mây vẽ ra bức tranh
loạn lạc, tang thương với những con người yếu ớt, không nơi nương tựa.
c. Biện pháp tu từ:
- Đảo ngữ câu 3, 4, 5, 6 nhấn mạnh sự yếu ớt, không nơi nương tựa
của con người trong cảnh loạn lạc.
- Câu hỏi tu từ cuối bài thơ câu trả lời đã nằm ngay trong câu hỏi,
nhấn mạnh ý tác giả dân tộc này cần người có trách nhiệm đứng ra
gánh vác, đối phó với giặc ngoại xâm.
2. Tình cảm, cảm xúc
Tác giả bày tỏ sự lo lắng, thương xót cho người dân, cho
vận mệnh đất nước, đồng thời thể hiện sự thất vọng, sự
trông đợi, sự chất vấn,… đối với những “trang dẹp loạn”,
những người có khả năng và trách nhiệm trước thời cuộc.
*HĐ 3 Luyện tập
Đọc bài thơ – phân tích đặc điểm về thể loại bài thơ
Đã bấy lâu nay, bác tới nhà
Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa
Ao sâu nước cả, khôn chài cá
Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà
Cải chửa ra cây, cà mới nụ
Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa
Đầu trò tiếp khách, trầu không có
Bác đến chơi dây, ta với ta.
*HĐ 4: Vận dụng
Vận dụng Sưu tầm kể tên một số bài thơ Đường luật
 








Các ý kiến mới nhất