Banner-baigiang-1090_logo1
Banner-baigiang-1090_logo2

Tìm kiếm theo tiêu đề

Tìm kiếm Google

Quảng cáo

Hướng dẫn sử dụng thư viện

Hỗ trợ kĩ thuật

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 036 286 0000
  • contact@bachkim.vn

Tuần 20. Hầu Trời

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lý Thanh Thủy
Ngày gửi: 16h:15' 28-11-2017
Dung lượng: 12.5 MB
Số lượt tải: 408
Số lượt thích: 0 người
Tản Đà qua kí họa
Tản Đà
(1889 – 1939)
I. GIỚI THIỆU CHUNG :
1. Tác giả :
Tản Đà (1889 – 1939)
-Tên thật Nguyễn Khắc Hiếu
- Quê hương: Tỉnh Sơn Tây (nay thuộc tỉnh Hà Tây)
- Con người:
+ Sinh ra và lớn lên trong buổi giao thời
+ Là“người của hai thế kỷ” (Hoài Thanh)
+ Học chữ hán từ nhỏ nhưng về sau chuyển sang sáng tác văn chương bằng chữ quốc ngữ…
- Phong cách thơ:
+ lãng mạn, bay bổng, vừa phóng khoáng, ngông nghênh, vừa cảm thương ưu ái.
+ thơ văn ông như một gạch nối giữa hai thời văn học: trung đại và hiện đại.
*
Các tác phẩm:
Thơ: Khối tình con I, II (1916, 1918)
Truyện: Giấc mộng con I, II (1916,1932)
Tự truyện: Giấc mộng lớn (1928)
Thơ và văn xuôi: Còn chơi (1921).
Cảnh vui của nhà nghèo
Tản Đà

Trong trần thế cảnh nghèo là khổ
Nỗi sinh nhai khốn khó qua ngày
Quanh năm gạo chịu tiền vay
Vợ chồng lo tính hôm rày hôm mai.
-Áo lành rách vá may đắp điếm
Nhà ở thuê chật hẹp quanh co
Tạm yên đủ ấm vừa no
Cái buồn khôn xiết, cái lo khôn cùng
-Con đi học con bồng con dắt
Lớn chưa khôn lắt nhắt thơ ngây,
Hôm hôm lớn bé sum vầy
Cũng nên vui vẻ mà khuây nỗi buồn
-Nghĩ thiên hạ cho con đi học
Cảnh phong lưu phú túc nói chi!
Những ai bần bạc hàn vi
Lo buồn, đã vậy, vui thì cũng vui.
-Tan buổi học mẹ ngồi tựa cửa
Mắt trông con đứa đứa về dần
Xa xa con đã tới gần
Các con về đủ quây quần bữa ăn.
-Cơm dưa muối khó khăn mới có,
Của không ngon, nhà khó cũng ngon.
Khi vui câu chuyện thêm giòn
Chồng chồng vợ vợ con con một nhà.
-Ăn rồi học, tối qua lại sáng,
Ít tiền tiêu ngày tháng thảnh thơi,
Chiều chiều tối tối mai mai
Miễn sao no đủ, việc đời quản chi!
-Con nhà khó nhiều khi vất vả,
Ngoài học đường thư thả được đâu,
Khi thời quẩy nước tưới rau
Chợ tan đón gánh theo sau mẹ già .
-Việc giấy bút vẫn là đi học
Cảnh gia đình khó nhọc nhường ai ?
Ví chăng có chí có tài
Khi nên, trời cũng cho người làm nên.
-Khắp xã hội nghèo hèn ai đó
Mẹ thương con thời cố công nuôi
Những con nhà khó kia ơi
Có thương cha mẹ thời vui học hành!
-Cũng chẳng kể thành danh lúc khác
Trời đã cho bước bước càng hay
Nghèo mà học được như nay
Vinh hoa chưa dễ sánh tày cái vui.
-Trong trần thế nhiều nơi phú quí
Nỗi buồn riêng ai ví như ai?
Bày ra cái cảnh có trời
Vui buồn cũng ở tự người thế gian
2. Bài thơ “Hầu trời”:
a/ Xuất xứ :
-Trích trong tập : “Còn chơi” (1921)
-Bài thơ ra đời vào thời điểm khuynh hướng lãng mạn đã khá đậm nét trong văn chương thời đại. Xã hội thực dân nửa phong kiến tù hãm, u uất, đầy rẫy những cảnh ngang trái, xót đau…
b/ Bố cục :
3 phần
+ Giới thiệu về câu truyện( từ “đêm qua … lạ lùng”)
+Thi nhân đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe (“chư tiên … chợ trời”)
+ Thi nhân trò chuyện với trời (“Trời lại phê cho… sương tuyết”).
II. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN :
1. Giới thiệu về câu chuyện :
- Câu chuyện xảy ra vào “đêm qua” (câu 1) → gợi khoảnh khắc yên tĩnh, vắng lặng.
- kể về một giấc mơ được lên cõi tiên (câu 4).
- Nhân vật trữ tình là tác giả, đang mang tâm trạng “chẳng phải hoảng hốt, không mơ màng”
- Biện pháp nghệ thuật:
+ Điệp từ “thật” → nhấn mạnh tâm trạng cảm xúc của thi nhân.
+ Câu cảm thán → bộc lộ cảm xúc bàng hoàng.
+ Câu khẳng định → dường như lật lại vấn đề: mơ và tỉnh, hư mà như thực.
Tứ thơ lãng mạn nhưng cảm xúc là có thực.→ “hồn cốt” trong cõi mộng
( mộng mà như tỉnh, hư mà như thực).
 Cách vào chuyện độc đáo có duyên, đề tài hấp dẫn lôi cuốn.
2. Thi nhân đọc thơ cho trời và chư tiên nghe:
a) Thái độ của thi nhân khi đọc thơ và nói về tác phẩm của mình:
HẰNG NGA
- Thi nhân đọc rất cao hứng, sảng khoái và có phần tự đắc:
“ Đọc hết văn vần sang văn xuôi
Hết văn thuyết lý lại văn chơi”
- Thi nhân kể tường tận, chi tiết về các tác phẩm của mình:
“Hai quyển khối tình văn lý thuyết
Hai khối tình con là văn chơi
Thần tiên, giấc mộng văn tiểu thuyết….”
+Ý thức về tài năng văn thơ của mình
(niềm khát khao chân thành trong tâm hồn thi sĩ).
+ là người táo bạo, dám đường hoàng bộc lộ “cái tôi” cá thể
+ cũng rất “ngông” khi tìm đến trời để khẳng định tài năng
b) Thái độ của người nghe:
(ngưỡng mộ)
TRỜI
CHƯ TIÊN
khen rất nhiệt thành:
xúc động, hâm mộ và tán thưởng
văn thật tuyệt, văn trần được thế chắc có ít, văn chuốt như sao băng…
Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi…
Mang đậm chất lãng mạn, thoát li cuộc đời
3. Thi nhân trò chuyện với trời :
a/ Kể về hoàn cảnh của mình :
- Giới thiệu họ tên, quê quán :
“ Con tên Khắc Hiếu họ Nguyễn
Quê ở Á châu về địa cầu
Sông Đà núi Tản nước Nam Việt
→ Khẳng định “cái tôi” cá nhân
- Kể về cuộc sống :
+ nghèo khổ, túng thiếu, bị coi thường
+ ở trần gian không tìm được tri âm phải tìm lên tận trời để thỏa ước nguyện
* “Bẩm trời hoàn cảnh con thực nghèo khó”
* “Trần gian thước đất cũng không có”
* “Văn chương hạ giới rẻ như bèo”
* “Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu’
 hiện thực CS của người nghệ sĩ
b/ Trách nhiệm và khát vọng của thi nhân :
- Nhiệm vụ Trời giao : truyền bá thiên lương
 Thực ra, Tản Đà vẫn quan tâm đến CS, có trách nhiệm với cuộc đời.
- Khát khao được gánh vác cuộc đời : tự khẳng định mình trước thời cuộc.
1. Nội dung :
- Bài thơ thể hiện cái tôi cá nhân ngông nghênh, kiêu bạc, hào hoa và cái tôi cô đơn, bế tắc trước thời cuộc.
- Nhà thơ đã tìm được hướng đi đúng đắn để khẳng định mình.
2. Nghệ thuật:
- Kể chuyện có duyên, cuốn hút
- Ngôn ngữ chọn lọc, tinh tế, gợi cảm, không cách điệu, ước lệ.
- Tác giả vừa là người kể chuyện vừa là nhân vật chính.
- Cảm xúc bộc lộ thoải mái, tự nhiên, phóng túng
- Thể thơ thất ngôn trường thiên khá tự do…
Chào mừng các bạn đến với bài học hôm nay!
Chúc các em học tốt!
-
 
Gửi ý kiến