Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

[MỜI HỢP TÁC] Các kỳ thi Olympic Quốc tế 2026 (IMO - IEO - ISO)

Kính gửi Quý Lãnh đạo, Ban Giám hiệu và Quý Thầy/Cô, FermatTech (Đối tác Google tại VN) phối hợp cùng SCO Ấn Độ trân trọng kính mời tham gia 3 kỳ thi uy tín dành cho HS từ lớp 1 - 12: - IMO: Olympic Toán Quốc tế. - IEO: Olympic Tiếng Anh Quốc tế. - ISO: Olympic Khoa học...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

PP giáo dục âm nhạc

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Nguyễn Thị Tố Loan
Người gửi: Nguyễn Tố Loan
Ngày gửi: 14h:49' 21-05-2026
Dung lượng: 3.2 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
Ths: Nguyễn Thị Tố Loan

I. Kiến thức
Sinh viên hiểu vai trò, ý nghĩa của âm
nhạc đối với sự phát triển của trẻ; đặc điểm
lứa tuổi của trẻ liên quan đến giáo dục âm
nhạc; Nhiệm vụ giáo dục âm nhạc và
phương pháp tổ chức các hoạt động âm
nhạc cho trẻ trong trường mầm non.

II. Kĩ năng
Giúp học sinh viên có kĩ năng vận
dụng những hiểu biết của mình vào trong
quá trình làm bài tập, thảo luận và tìm
hiểu thực tế của môn học này trong quá
trình chăm sóc, giáo dục trẻ hiện nay ở
trường mầm non.

III. Thái độ
Thông qua những kiến thức đã học
giúp học sinh sinh viên có thái độ tích cực,
sáng tạo, nghiêm túc trong việc học tập và
tổ chức hoạt động giáo dục âm nhạc cho trẻ
trong trường mầm non.

Phương pháp Giáo dục
âm nhạc

Chương 1: Những
vấn đề chung
Chương 2: Các dạng hoạt
động âm nhạc và
phương pháp hoạt động
Chương 3: Tổ chức các hoạt động âm
nhạc

A. Mục tiêu
1. Kiến thức
+ Hiểu được những kiến thức nền tảng của phương
pháp giáo dục âm nhạc. Những vấn đề chung như: Ý
nghĩa giáo dục âm nhạc đối với trẻ mầm non; Đặc
điểm âm nhạc của trẻ mầm non; Nhiệm vụ giáo dục
âm nhạc cho trẻ mầm non; Các phương pháp đặc
trưng của giáo dục âm nhạc mầm non;
+ Hiểu được cơ sở của các kiến thức về: Các dạng
hoạt động giáo dục âm nhạc và Phương pháp hoạt
động như: Phương pháp tổ chức Ca hát; Phương
pháp tổ chức Nghe nhạc; Phương pháp tổ chức Vận
động theo nhạc; Tổ chức trò chơi âm nhạc cho trẻ

A. Mục tiêu

2. Kĩ năng
+ Hình thành và phát triển cho sinh viên năng lực sử
dụng PP GDAN trong tổ chức các hoạt động AN;
+ Hình thành được năng lực sử dụng các phương
pháp để tổ chức tốt các hoạt động AN cho trẻ MN;
+ Phát triển KN phân tích, tổng hợp khi thảo luận
nhóm;
+ Vận dụng kiến thức thực hành tổ chức các hoạt
động âm nhạc trong chương trình giáo dục âm nhạc ở
trường mầm non;
+ Bước đầu có kĩ năng khai thác ứng dụng thông tin
trong dạy học thông qua chuẩn bị các báo cáo.

A. Mục tiêu
3. Năng lực tự chủ và trách nhiệm
+ Có thái độ học tập nghiêm túc, tích cực xây
dựng bài, chủ động lĩnh hội tri thức, có khả năng
tự học, tự nghiên cứu. Yêu nghề mến trẻ và có
định hướng phát triển nghề nghiệp trong tương
lai.



Máy tính, máy chiếu



Tập bài giảng: Phương pháp giáo dục âm nhạc (tài liệu
lưu hành nội bộ)



Tuyển tập: Trò chơi, thơ truyện, bài hát (4 quyển 4 độ
tuổi)



Phát triển và tổ chức thực hiện chương trình GDMN (4
quyển 4 độ tuổi)

YÊU CẦU CẦN CHUẨN BỊ CỦA NGƯỜI HỌC


Nghiên cứu trước tài liệu



Tích cực trong các hoạt động trên lớp



Làm bài tập đầy đủ



Chuẩn bị học liệu trước khi đến lớp

C. NỘI DUNG KIẾN THỨC TRỌNG TÂM
1.1. Vai trò, ý nghĩa của âm nhạc đối với trẻ
1.2. Đặc điểm lứa tuổi trẻ mầm non
1.3. Nhiệm vụ giáo dục âm nhạc cho trẻ mầm non
1.4. Phương pháp tổ chức các hoạt động âm nhạc

Âm nhạc là loại hình nghệ thuật biểu hiện bằng âm
thanh, có sức tác động mạnh mẽ đến tình cảm con
người. Ngôn ngữ AN chính là giai điệu, tiết tấu, cường
độ...thu hút, hấp dẫn, thỏa mãn nhu cầu tinh thần của
trẻ, đồng thời là phương tiện giúp trẻ nhận thức thế giới
xung quanh, phát triển ngôn ngữ, quan hệ giao tiếp, trao
đổi tình cảm.
Quá trình tham ra các HĐAN hình thành ở trẻ
những yếu tố của một nhân cách phát triển hài hòa,
toàn diện về thẩm mĩ, đạo đức, trí tuệ và thể lực. Ngoài
ra là điều kiện phát triển các chức năng tâm lí, năng lực
hoạt động và sự hiểu biết của trẻ.

1.1.1. Âm nhạc là phương tiện
phát triển thẩm mĩ
Âm nhạc là một bộ môn
nghệ thuật GD cái đẹp cho trẻ
bằng lời ca, giai điệu, giúp trẻ
giúp trẻ nói lên cảm xúc của
mình.
Bài hát là phương tiện để GD
trẻ nhiều mặt, các bài hát giản dị
có tính nghệ thuật phù hợp sẽ
hình thành ở trẻ thị hiếu âm nhạc
trong sáng, lành mạnh là cơ sở
của tính chất thẩm mỹ, đạo đức
tốt đẹp.

1.1.1. Âm nhạc là phương tiện
phát triển thẩm mĩ
Âm nhạc nói chung và
đặc biệt là hoạt động ca hát nói
riêng có sức mạnh lôi cuốn tâm hồn,
tình cảm của trẻ, AN chân chính có
giá trị nghệ thuật cảm hóa mọi
người cùng hướng tới cái đẹp. Vì
vậy GD thẩm mỹ cho trẻ thông qua
hoạt động AN trong trường MN làm
phong phú thêm đời sống tinh thần
của trẻ giúp trẻ cảm thụ cái hay cái
đẹp tạo niềm tin cho các cháu vui
sống trong hiện tại và tương lai.

1.1.2. Âm nhạc là
phương tiện GD đạo đức
Lời ca trong các tác phẩm
AN giàu hình ảnh và mang đậm
chất trữ tình chính vì vậy nó giúp
trẻ phát hiện và cảm nhận được
vẻ đẹp trong thiên nhiên, sự ngộ
nghĩnh đáng yêu của các con vật
quen thuộc, tình thân gia đình,
bạn bè, tình yêu quê hương đất
nước... từ đó hình thành cách ứng
xử hay nói cách khác giáo dục
cho các cháu đạo đức làm người.

Trẻ tham gia các
HĐAN, đặc biệt là biểu
diễn giúp trẻ vui tươi
hồn nhiên, thoải mái tự
tin hơn, ảnh hưởng và
chi phối mạnh mẽ đến
các hành vi của trẻ.

Khi trẻ tham gia các hoạt động
AN mỗi trẻ đều phải chấp
hành tính tổ chức kỷ luật, sự
chú ý, phản ứng nhanh, biết
kiềm chế điều khiển vận động
phù hợp với AN , biết nhường
nhịn giúp đỡ, do đó AN là
phương tiện GD cho trẻ về
văn hóa giao tiếp, hành vi ứng
xử và tính tập thể, tạo điều
kiện hình thành những phẩm

1.1.3. Âm nhạc góp
phần phát triển trí tuệ.
Âm nhạc giúp trẻ phát
triển trí nhớ, khả năng ghi nhớ
âm nhạc của trẻ thông qua độ
nhạy cảm của tai nghe âm
nhạc và sự phối hợp các thao
tác của tư duy trong quá trình
hoạt động học tập. Khi tập hát
giáo viên nên gợi mở giúp trẻ
nhận thức và trên cơ sở ấy trí
nhớ ngày càng phát triển.

1.1.3. Âm nhạc góp phần phát triển trí tuệ.
Âm thanh là ngôn ngữ đặc biệt của AN để xây dựng
lên hình tượng trong các tác phẩm AN chính vì vậy nghệ
thuật AN vừa mang tính khái quát, vừa mang tính ước lệ
cao thông qua việc sử dụng các hình tượng AN, các chất
liệu tiết tấu và yếu tố lời ca, phù hợp với khả năng tưởng
tượng sáng tạo của trẻ, trên cơ sở những hiểu biết, kinh
nghiệm mà trẻ đã quan sát và thu thập, trẻ có thể trao đổi về
âm nhạc khi đã có khái niệm nhất định, vì vậy trí tuệ được
hoạt động tích cực, như vậy giáo dục âm nhạc có vai trò lớn
thúc đẩy hoạt động trí tuệ phát triển.

1.1.4. Âm nhạc tác động đến tâm sinh lí của trẻ.
Nghe, vận động theo nhạc giúp trẻ tập phối hợp các động
tác đi, chạy, nhảy...tác phong nhanh nhẹn, vận động toàn thân
khi có nhạc kèm theo, tạo cho trẻ sự mềm dẻo, nhịp nhàng có
ảnh hưởng tốt đến tim mạch và sự phát triển của cơ nếu nghe
nhạc đúng mức và phù hợp sẽ làm thư giãn thần kinh, kích thích
óc sáng tạo.
Hát giúp trẻ củng cố cơ quan phát âm, trẻ thở sâu, tránh
nói lắp, đẩy mạnh chức năng hoạt động của cơ quan phát thanh,
hô hấp, hình thành giọng hát của trẻ, tạo sự liên hệ nhạy bén
giữa các giác quan, hát còn ảnh hưởng đến tư thế khi học hát trẻ
có tư thế ngồi, đứng hát đúng.

1.1.4. Âm nhạc tác động
đến tâm sinh lí của trẻ.
Tác dụng GD toàn diện
của AN đối với trẻ MN là điều
cần thiết đầu tiên để tiến hành
tốt việc GDAN cho trẻ, bước
đầu cho các cháu làm quen tiếp
xúc với AN để các cháu có đầy
đủ bộ năng khiếu âm nhạc đây
cũng là thời điểm phát hiện bồi
dưỡng những cháu có năng
khiếu có thể cho học chuyên
nghiệp sau này.

1.2.1. Trẻ dưới 1 tuổi.
Trẻ sơ sinh 10 - 12 ngày tuổi đã xuất hiện những phản
ứng về âm thanh.
Trẻ 2 tháng tuổi có nhiều biểu hiện nghe giọng nói.
Trẻ 4-5 tháng tuổi hướng theo nơi phát ra âm thanh, trẻ
có biểu hiện hưởng ứng với tính chất âm thanh trong đó
có âm nhạc như lắng nghe khi có tiếng nhạc.
Ví dụ: Trẻ đang khóc có tiếng hát ru thì nín khóc...
Cuối năm thứ nhất khi nghe người lớn hát trẻ bắt chước
bập bẹ theo.

1.2.2. Trẻ 1 -2 tuổi.
Ở độ tuổi này những bài hát
vui tươi nhộn nhịp dễ tạo xúc
cảm, gây sự chú ý đối với trẻ, trẻ
hát theo người lớn câu hát đơn
giản, trẻ thích nghe hát ru, âm
điệu của người thân ruột thịt và
thường hưởng ứng với âm nhạc
bằng những động tác đơn giản
như vẫy tay, nhún chân, vỗ tay
tuy chưa hoàn toàn khớp với nhịp
điệu.

1.2.3. Trẻ 2 - 3 tuổi.
Trẻ phát âm còn ngọng nhưng
biết liên hệ với nghĩa. Trẻ nói
được câu nói hoàn chỉnh, chức
năng của các cơ vận động phát
triển ổn định hơn.
Trẻ thể hiện hứng thú với âm
nhạc qua vận động như dậm
chân, vỗ tay thích ứng với chuyển
động lên xuống.
Trẻ biết theo dõi tỉ mỉ không gian
chuyển dịch trước sau lên xuống
và biết nhắc lại BH ngắn.

1.2.4. Trẻ từ 3 - 4 tuổi.
Thời kỳ này ở trẻ xuất hiện tính tự
chủ, thích HĐ, trẻ nói và hát trong
mọi HĐ, thích nghe nhạc, biết đáp
ứng lại hay bắt chước những cử
chỉ, hành động của người khác.
Trẻ hát được cả câu và câu dài
trong bài hát quen thuộc.
Trẻ nhận ra BH, giai điệu quen
thuộc, hát đi hát lại một BH lặp đi
lặp lại một từ ngữ, thích thêm từ
vào BH, làm quen với nhạc cụ, biết
nghe nhạc vỗ tay nhanh chậm theo
nhịp điệu của bài hát.

1.2.5. Trẻ từ 4 - 5 tuổi.
 Trẻ biết nhận xét về âm nhạc như: Tính chất vui vẻ, nhộn nhịp
sôi nổi hay trầm tính êm dịu. nhịp độ nhanh chậm, cường độ to
nhỏ âm sắc nhạc cụ, giọng bạn hát, tiếng kêu của các loại đàn
vang lên...
 Trẻ hiểu được yêu cầu thể hiện sắc thái bài hát thể hiện được
các động tác trong điệu múa, biết hòa giọng mình với tập thể một
cách sáng tạo, thành thạo trong các động tác vận động trò chơi
trẻ biết mô phỏng hình tượng, thích trò chơi vận động phân vai giả
làm các con vật, tập làm ca sĩ...
 Trẻ thích thêm bớt từ của bài hát và sáng tạo nhịp điệu mới đặc
biệt trẻ rất thích chơi với nhạc cụ.

1.2.6. Trẻ từ 5 - 6 tuổi.
Trẻ có khả năng tri giác toàn vẹn hình tượng âm nhạc
cùng với những kinh nghiệm được tích lũy từ trước như nghe
hát cùng đàn đệm, xem động tác, điệu bộ. Trẻ có thể chuyển đổi
điệu bộ theo âm điệu, vận động phối hợp toàn thân với một trình
tự tương đối phức tạp trong các điệu múa hay tái hiện một số
tiết tấu khó. Trẻ có thể sử dụng nhạc cụ có bàn phím ở mức độ
đơn giản, có nhu cầu hoạt động âm nhạc, biết thể hiện nhạc
cảm khi hát múa. Tuy nhiên, ở độ tuổi này, sự nhạy cảm về âm
nhạc bắt đầu giảm dần . Trẻ có ấn tượng sâu sắc khi nghe nhạc
qua đài, xem băng đĩa... biết so sánh một vài thể loại âm nhạc
về âm thanh, tính chất, lời ca.

1.2.6. Trẻ từ 5 - 6 tuổi.
Lịch sử cho thấy ở lứa
tuổi này, những năng khiếu AN
đặc biệt xuất hiện nhiều hơn bất
cứ lĩnh vực nào khác. Việc tiến
hành giáo dục AN ở độ tuổi
mẫu giáo sẽ thu được kết quả
tốt nhất. Bỏ qua giai đoạn này
là một thiệt thòi lớn đối với trẻ
trong các lứa tuổi sau.
Đặc điểm lứa tuổi về sự
phát triển âm nhạc của trẻ mẫu
giáo giúp cho các nhà sư phạm
soạn bài tập, nội dung phù hợp.

3 nhiệm vụ cơ bản:
- Giáo dục cho trẻ lòng
yêu âm nhạc, biết cảm thụ âm
nhạc thông qua các hoạt động
âm nhạc phong phú. Dưới tác
động giáo dục của âm nhạc,
những ấn tượng, khái niệm
ban đầu về âm nhạc tạo điều
kiện cho sự hình thành thị hiếu
âm nhạc ở trẻ, giúp trẻ biết
cách biểu diễn ở mức độ đơn
giản.

- Hướng dẫn và tổ chức cho trẻ thực hành
những kĩ năng cơ bản, đơn giản và thói quen
trong các dạng hoạt động âm nhạc.
- Phát triển ở trẻ năng lực cảm thụ, tưởng
tượng, sự tập chung chú ý, biết nhận xét, có khả
năng diễn tả hứng thú và sự lựa chọn, phát huy
tính tích cực, sáng tạo trong các dạng hoạt động
âm nhạc, như thể hiện các hình tượng bằng động
tác, điệu bộ.

1.4.1. Phương pháp trực quan thính giác.
Đây là phương pháp đặc thù trong thưởng thức và giáo
dục âm nhạc bởi vì âm nhạc chỉ có thể gợi cảm xúc cho
người nghe khi được trình diễn.
Việc tổ chức cho trẻ tiếp xúc với âm nhạc nhằm mục
đích gợi lên những tâm trạng, cảm xúc, tình cảm đa
dạng, gần gũi trẻ, giúp trẻ có sự liên tưởng.
Ví dụ: Quan sát, lắng nghe một số ca khúc có minh họa
qua video, cho trẻ nêu lên cảm nhận của bản thân đối với
các ca khúc vừa quan sát.

1.4.1. Phương pháp trực quan thính giác.
Cho trẻ nghe hát: cô hát, nghe qua video, băng đài…
Nghe nhạc: có lời, không lời …
* Yêu cầu: tiếng đàn, giọng hát chuẩn xác diễn cảm hợp với
động tác, điệu bộ phù hợp mang đến cho trẻ niềm vui sướng
thán phục, muốn vậy giáo viên phải nghiên cứu tìm tòi cách thể
hiện sáng tạo, trình bày tác phẩm dưới các hình thức khác nhau
để thu hút lôi cuốn sự tập trung chú ý của trẻ. Giáo viên cho trẻ
được tri giác trọn vẹn giai điệu và lời ca của bài hát đặc biệt là
những tính chất và đặc điểm cơ bản của âm hình tiết tấu, các
tuyến giai điệu và những ca từ gần gũi hấp dẫn trẻ.

1.4.2. Phương pháp dùng lời
PP này được sử dụng trong tất cả các HĐAN như:
Hát; Vận động, nghe nhạc; Trò chơi âm nhạc.
Khi giới thiệu bài hát cho trẻ nghe hoặc cho trẻ hát cần
dùng lời diễn giải sinh động, gây hứng thú, tập chung để trẻ
chờ đón được thưởng thức.
Khi hướng dẫn trẻ học hát hay vận động theo nhạc
cần dùng lời nói có tính chất hiệu lệnh ngắn gọn để bắt nhịp
cho trẻ thực hiện, cũng có thể dùng lời động viên, khuyến
khích để trẻ thực hiện tốt hơn.
Khi cho trẻ nghe nhạc, giáo viên dùng lời đặt câu hỏi
gợi mở để trẻ tìm hiểu tác giả, tác phẩm và nội dung tác
phẩm.

1.4.3. Phương pháp thực hành nghệ thuật.
Trẻ học hát, vận động theo nhạc, tham gia trò chơi
âm nhạc, sử dụng nhạc cụ hoạt động sáng tạo dưới sự
hướng dẫn của giáo viên là kết quả của GDAN.
Khi tổ chức các HĐGDAN giáo viên cần giúp đỡ trẻ cảm
thụ âm nhạc, hình thành động tác tư thế đúng, luân chuyển
động tác khớp với nhịp điệu trò chơi âm nhạc.
Trong quá trình luyện tập chú ý sửa sai cho trẻ bằng cách
giải thích, nhắc nhở, làm mẫu và cho trẻ tập riêng.
Nghe nhạc cũng là HĐ cần được rèn luyện cho trẻ thường
xuyên có hệ thống, giáo viên tổ chức cho trẻ nghe bằng các
hình thức khác nhau như nghe trực tiếp và gián tiếp để giúp
trẻ cảm thụ âm nhạc.

1.4.4. Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan.
Đồ dùng trực quan là phương tiện hữu hiệu giúp trẻ
nhận thức và thể hiện cảm xúc.
Các phương tiện đồ dùng dạy học như nhạc cụ (đàn,
trống, mõ, phách, sắc xô…) băng, đĩa hình... Việc sử dụng
nhạc cụ trong hoạt động âm nhạc như: Giáo viên dùng đàn
để đàn giai điệu, hay lấy giọng, hay dùng bộ nhớ của đàn
để ghi sẵn tiết tấu mở cho trẻ hát.
Đồ dùng trực quan có thể do giáo viên tự làm hoặc
trang bị. Với nhạc cụ và phương tiện nghe nhìn được trang
bị, giáo viên phải học cách sử dụng và biết sử dụng cho
phù hợp, đúng lúc. Ví dụ: Phách tre, trống cơm, mõ, sắc
xô, Đàn Organ, đàn Guitar, kèn acmonica….

Tìm hiểu các hoạt động âm nhạc tại
trường Mầm non và viết thu hoạch

Câu 1. Nêu ý nghĩa của âm nhạc đối với sự phát
triển toàn diện của trẻ?
Câu 2. Phân tích đặc điểm lứa tuổi của trẻ ảnh
hưởng trực tiếp đến quá trình giáo dục âm nhạc?
Câu 3. Trình bày nhiệm vụ giáo dục âm nhạc cho
trẻ mầm non?
Câu 4. Phân tích các phương pháp tổ chức các
hoạt động giáo dục âm nhạc?
 
Gửi ý kiến