Tuần 20. Hầu Trời

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: phạm thị thanh thương
Ngày gửi: 19h:04' 31-10-2021
Dung lượng: 859.9 KB
Số lượt tải: 208
Nguồn:
Người gửi: phạm thị thanh thương
Ngày gửi: 19h:04' 31-10-2021
Dung lượng: 859.9 KB
Số lượt tải: 208
Số lượt thích:
0 người
HẦU TRỜI
1. Tác giả - tác phẩm
Tản Đà: (1889-1939), tên thật Nguyễn Khắc Hiếu
Quê hương: Tỉnh Sơn Tây (Nay thuộc tỉnh Hà Tây)
Con người:
Sinh ra và lớn lên trong buổi giao thời.
Là "người của hai thế kỷ" (Hoài Thanh)
Học chữ hán từ nhỏ nhưng về sau chuyển sang sáng tác văn chương bằng chữ quốc ngữ...
Phong cách thơ:
Lãng mạn, bay bổng, vừa phóng khoáng, ngông nghênh, vừa cảm thương ưu ái.
Có thể xem thơ văn ông như một gạch nối giữa hai thời văn học của dân tộc: trung đại và hiện đại. Các tác phẩm
Thơ: Khối tình con người I, II (1916, 1918)
Truyện: Giấc mộng con người I, II (1916, 1932)
Tự truyện: Giấc mộng lớn (1928)
Thơ và văn xuôi: Còn chơi (1921)
2. Văn bản "Hầu trời"
a) Xuất xứ
Trong tập "Còn chơi" (1921)
Bài thơ ra đời vào thời điểm khuynh hướng lãng mạng đã khá đậm nét trong văn chương thời đại. Xã hội thực dân nữa phong kiến tù hãm, u uất, đầy rẫy những cảnh ngang trái, xót đau...
b) Bố cục: 3 phần:
Phần 1: Giới thiệu về câu truyện, từ "đêm qua... lạ lùng"
Phần 2: "chủ tiên... chợ trời" Thi nhân đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe.
Phần 3: "Trời lại phê cho... sương tuyết" thi nhân trò chuyện với trời.
SƠ ĐỒ TƯ DUY BÀI HẦU TRỜI
1.2. Nội dung cơ bản
1. Giới thiệu câu chuyện
Gợi khoảng khắc yên tĩnh, vắng lặng."- Câu chuyện xảy ra vào "đêm qua" (câu 1)
Câu truyện kể về một giấc mơ được lên cõi tiên (câu 4).
Nhân vật trữ tình là tác giả, đang mang tâm trạng "chẳng phải hoảng hốt, không mơ màng"
Biện pháp nghệ thuật: nhấn mạnh tâm trạng cảm xúc của thi nhân.
Điệp từ "thật" Bộc lộ cảm xúc bàng hoàng.
Câu cảm thán dường như lật lại vấn đề: mơ và tỉnh, hư mà như thực.
Câu khẳng định
Cách giới thiệu trên đã gợi cho người đọc về tứ thơ lãng mạng nhưng cảm xúc là có thực. Tác giả muốn người đọc cảm nhận được cái "hồn cốt" trong cõi mộng, mộng mà như tỉnh, hư mà như thực.
=> Cảm nhận được "cái tôi" cá nhân đầy chất lãng mạng, bảy bổng pha lẫn nét "ngông" trong thơ thi nhân. Với cách vào chuyện độc đáo có duyên đã làm cho câu truyện mà tác giải sắp kể trở nên hấp dẫn lôi cuốn
2. Thi nhân đọc thơ cho trời và chư tiên nghe
a) Thái độ của thi nhân khi đọc thơ và việc thi nhân nói về tác phẩm của mình:
Thi nhân đọc rất cao hứng, sảng khoái và có phần tự đắc:
"Đọc hết văn vần sang văn xuôi
Hết văn thuyết lý lại văn chơi"
Thi nhân kể tường tận, chi tiết về các tác phẩm của mình:
"Hai quyển khối tình văn lý thuyết
Hai khối tình còn là văn chơi
Thần tiên, giấc mộng văn tiểu thuyết...."
Giọng đọc: đa dạng, hóm hỉnh, ngông nghênh có phần tự đắc.
=> Đoạn thơ cho thấy thi nhân rất ý thức về tài năng văn thơ của mình và cũng là người táo bạo, dám đường hoàng bộc lộ "cái tôi" cá thể. Ông cũng rất "ngông" khi tìm đến trời để khẳng dịnh tài năng. Đây là niềm khát khai chân thành trong tâm hồn thi sĩ.
b) Thái độ của người nghe:
Rất ngưỡng mộ tài năng thơ văn của tác giả
Thái độ của trời: khen rất nhiệt thành: văn thật tuyệt, văn trần được thế chắc có ít, văn chuốt như sao băng...
Thái độ của chư tiên: xúc động, hâm mộ và tán thưởng...Tâm nở dạ, cơ lè lưỡi...
=> Cả đoạn thơ mang đậm chất lãng mạng và thể hiện tư tưởng thoát li trước cuộc đời
3. Thi nhân trò chuyện với trời
a) Thi nhân kể về hoàn cảnh của mình
Thi nhân kể họ tên, quê quán:
" Con tên Khắc Hiếu họ Nguyễn
Quê ở Á châu về địa cầu
Sông Đà núi Tản nước Việt Nam"
Trong văn chương việc thể hiện họ tên trong tác phẩm chính là một cáh để khẳng định cái tôi cá nhân của mình. Thi nhân kể về cuộc sống: Đó là môt cuộc sống nghèo khó, túng thiếu, thân phận nhà văn bị rẻ rúng, coi thường. Ở trần gian ông không tìm được tri âm, nên phải lên tận cỏi trời để thoả nguyện nỗi lòng.
"Bẩm trời hoàng cảnh con thực nghèo khó"
"Trần gian thước đất cũng không có"
"Văn chương hạ giới rẻ như bèo"
"Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu"
Đó cũng chính là hiện thực cuộc sống của người nghệ sĩ trong xã hội lúc bấy giờ, một cuộc sống cơ cực không tấc đất cắm dùi, thân phận bĩ rẻ rúng, làm chẳng đủ ăn.
=> Qua đoạn thơ tác giả đã cho người đọc thấy một bức tranh chân thực và cảm động về chính cuộc đời mình và cuộc đời nhiều nhà văn nhà thơ khác.
=> Cảm hứng hiện thực bao trùm cả đoạn thơ này
b) Trách nhiệm và khát vọng của thi nhân
Nhiệm vụ trời giao: Truyền bá thiên lương. Nhiệm vụ trên chứng tỏ Tản Đà lãng mạn chứ không hoàn toàn thoát li cuộc sống. Ông vẫn ý thức về nghĩa vụ, trách nhiệm đối với đời để đem lại cuộc sống ấm no hành phúc hơn. Đó cũng là một cách tự khẳng định mình trước thời cuộc.
Thi nhân khát khao được gánh vác việc đời
=> Như vậy có thể nói trong thơ Tản đà cảm hứng lãng mạng và cảm hứng hiện thực đan xen khăng khít.
1.3. Tổng kết
1. Nội dung
Bài thơ thể hiện cái tôi cá nhân ngông nghênh, kiêu bạc, hào hoa và cái tôi cô đơn, bế tắc trước thời cuộc.
Có thể thấy nhà thơ đã tìm được hướng đi đúng đắn để khẳng định mình.
2. Nghệ thuật
Cách kể chuyện hóm hỉnh, có duyên, lôi cuốn người đọc.
Ngôn ngữ thơ chọn lọc, tinh tế, gợi cảm, không cách điệu, ước lệ.
Tác giả vừa là người kể chuyện vừa là nhân vật chính.
Cảm xúc bộc lộ thoải mái, tự nhiên, phóng túng.
Thể thơ thất ngôn trường thiên khá tự do.
Câu 1 : Ý nào sau đây chưa chính xác khi nói về Tản Đà?
A. Sinh ra và lớn lên trong buổi giao thời khi Hán học đã tàn mà Tây học vừa mới bắt đầu.
B. Vào những năm 20 của thế kỉ XX, tên tuổi ông nổi lên như một ngôi sao sáng trên thi đàn văn học
C. Thơ văn ông được xem như một gạch nối giữa hai thời đại văn học của dân tộc: Trung đại và Hiện đại.
D. Ông sáng tác thơ văn chủ yếu bằng chữ Hán.
Câu 2 : Bài thơ “Hầu trời” của Tản Đà được viết bằng:
A. chữ Nôm, thể thất ngôn tứ tuyệt.
B. chữ Nôm, thể thất ngôn trường thiên.
C. chữ Hán, thể thất ngôn trường thiên.
D. chữ quốc ngữ, thể thất ngôn trường thiên.
Câu 3 : Trong bài thơ “Hầu trời”, nhà thơ Tản Đà được mời lên Thiên đình để làm gì?
A. Phụ trách chợ văn trên Thiên đình.
B. Đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe.
C. Chịu phạt vì tội đọc thơ giữa đêm khuya làm Trời mất ngủ.
D. Dạy cho Trời và chư tiên làm thơ
Câu 4 : Dòng nào sau đây không thể hiện cái ngông của Tản Đà trong bài “Hầu trời”?
A. Xem mình bị đày xuống hạ giới vì tội ngông.
B. Không thấy ai tri âm với mình ngoài trời và tiên.
C. Tự cho mình văn hay khiến trời phải khen thưởng
D. Ý thức về tài năng và chí làm trai trong trời đất.
Câu 5 : Nét độc đáo về nghệ thuật của bài thơ Hầu trời là:
A. Thể thơ thể thất ngôn trường thiên tự do, không bị trói buộc bởi khuôn mẫu nào.
B. Ngôn từ hóm hỉnh, có duyên, lôi cuốn người đọc.
C. Cách biểu hiện cảm xúc tự do, phóng túng, bình dân.
D. Tất cả đều đúng.
Câu 6 : Từ phía người đọc, bút danh Tản Đà trước hết và chủ yếu muốn gợi liên tưởng đến điều gì trong tâm hồn, tính cách nhà thơ?
A. Tính cách "ngông" và xu hướng thoát li thực tại.
B. Tình yêu quê hương, đất nước.
C. Tính cách lãng mạn, phóng túng.
D. Niềm khao khát tự do, lòng trân trọng cái đẹp của tạo hóa.
Câu 7 : Qua câu chuyện "Hầu Trời" được Tản Đà hư cấu, kể lại bằng thơ, có thể thấy thơ trữ tình buổi giao thời đã thiên về nội dung, tính chất nào?
A. Nói chí một cách trịnh trọng.
B. Tỏ bày cảm xúc một cách lâm li, thống thiết.
C. Giãi bày cảm xúc một cách phóng khoáng.
D. Tỏ lòng một cách trang nghiêm.
Câu 8: Khí văn của Tản Đà được “nhà trời” so sánh với hình ảnh nào?
A. Mây chuyển, gió thoảng, sương, mưa sa, tuyết.
B. Sao băng, gió thoảng, sương, mưa sa, tuyết,
C. Sao băng, mây đen, gió thoảng.
D. Mưa, sao trời, gió thoảng, tuyết rơi.
Câu 9: Thái độ nghe đọc đoạn văn của Hằng Nga, Chức Nữ được miêu tả bằng từ ngữ nào?
A. Nở dạ
B. Lè lưỡi
C. Chau đôi mày
D. Lắng tai đứng
Câu 10: Nhận xét nào sau đây đúng với giọng điệu bài thơ “Hầu Trời” của Tản Đà ?
A. Hùng hồn, mạnh mè, nhiều cảm xúc.
B. Thoải mái, tự nhiên, khoáng đạt.
C. Buồn thảm, da diết, chứa chan.
D. Hóm hỉnh, sôi nổi, ngậm ngùi
Câu 11: Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là gì?
A. Cảm hứng trữ tình xen lẫn với hiện thực.
B. Cảm hứng lãng mạn.
C. Cảm hứng hiện thực xen lẫn với phê phán,
D. Cảm hứng phê phán, hài hước.
Câu 12: Ngôn ngữ trong bài thơ “Hầu trời” như thế nào?
A. Hồn nhiên, trong sáng, giàu cảm xúc.
B. Trầm lắng, nhẹ nhàng, trau chuốt.
C. Vui tươi, giàu nhạc điệu.
D. Giản dị, gần gũi lời ăn tiếng nói hàng ngày
1. Tác giả - tác phẩm
Tản Đà: (1889-1939), tên thật Nguyễn Khắc Hiếu
Quê hương: Tỉnh Sơn Tây (Nay thuộc tỉnh Hà Tây)
Con người:
Sinh ra và lớn lên trong buổi giao thời.
Là "người của hai thế kỷ" (Hoài Thanh)
Học chữ hán từ nhỏ nhưng về sau chuyển sang sáng tác văn chương bằng chữ quốc ngữ...
Phong cách thơ:
Lãng mạn, bay bổng, vừa phóng khoáng, ngông nghênh, vừa cảm thương ưu ái.
Có thể xem thơ văn ông như một gạch nối giữa hai thời văn học của dân tộc: trung đại và hiện đại. Các tác phẩm
Thơ: Khối tình con người I, II (1916, 1918)
Truyện: Giấc mộng con người I, II (1916, 1932)
Tự truyện: Giấc mộng lớn (1928)
Thơ và văn xuôi: Còn chơi (1921)
2. Văn bản "Hầu trời"
a) Xuất xứ
Trong tập "Còn chơi" (1921)
Bài thơ ra đời vào thời điểm khuynh hướng lãng mạng đã khá đậm nét trong văn chương thời đại. Xã hội thực dân nữa phong kiến tù hãm, u uất, đầy rẫy những cảnh ngang trái, xót đau...
b) Bố cục: 3 phần:
Phần 1: Giới thiệu về câu truyện, từ "đêm qua... lạ lùng"
Phần 2: "chủ tiên... chợ trời" Thi nhân đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe.
Phần 3: "Trời lại phê cho... sương tuyết" thi nhân trò chuyện với trời.
SƠ ĐỒ TƯ DUY BÀI HẦU TRỜI
1.2. Nội dung cơ bản
1. Giới thiệu câu chuyện
Gợi khoảng khắc yên tĩnh, vắng lặng."- Câu chuyện xảy ra vào "đêm qua" (câu 1)
Câu truyện kể về một giấc mơ được lên cõi tiên (câu 4).
Nhân vật trữ tình là tác giả, đang mang tâm trạng "chẳng phải hoảng hốt, không mơ màng"
Biện pháp nghệ thuật: nhấn mạnh tâm trạng cảm xúc của thi nhân.
Điệp từ "thật" Bộc lộ cảm xúc bàng hoàng.
Câu cảm thán dường như lật lại vấn đề: mơ và tỉnh, hư mà như thực.
Câu khẳng định
Cách giới thiệu trên đã gợi cho người đọc về tứ thơ lãng mạng nhưng cảm xúc là có thực. Tác giả muốn người đọc cảm nhận được cái "hồn cốt" trong cõi mộng, mộng mà như tỉnh, hư mà như thực.
=> Cảm nhận được "cái tôi" cá nhân đầy chất lãng mạng, bảy bổng pha lẫn nét "ngông" trong thơ thi nhân. Với cách vào chuyện độc đáo có duyên đã làm cho câu truyện mà tác giải sắp kể trở nên hấp dẫn lôi cuốn
2. Thi nhân đọc thơ cho trời và chư tiên nghe
a) Thái độ của thi nhân khi đọc thơ và việc thi nhân nói về tác phẩm của mình:
Thi nhân đọc rất cao hứng, sảng khoái và có phần tự đắc:
"Đọc hết văn vần sang văn xuôi
Hết văn thuyết lý lại văn chơi"
Thi nhân kể tường tận, chi tiết về các tác phẩm của mình:
"Hai quyển khối tình văn lý thuyết
Hai khối tình còn là văn chơi
Thần tiên, giấc mộng văn tiểu thuyết...."
Giọng đọc: đa dạng, hóm hỉnh, ngông nghênh có phần tự đắc.
=> Đoạn thơ cho thấy thi nhân rất ý thức về tài năng văn thơ của mình và cũng là người táo bạo, dám đường hoàng bộc lộ "cái tôi" cá thể. Ông cũng rất "ngông" khi tìm đến trời để khẳng dịnh tài năng. Đây là niềm khát khai chân thành trong tâm hồn thi sĩ.
b) Thái độ của người nghe:
Rất ngưỡng mộ tài năng thơ văn của tác giả
Thái độ của trời: khen rất nhiệt thành: văn thật tuyệt, văn trần được thế chắc có ít, văn chuốt như sao băng...
Thái độ của chư tiên: xúc động, hâm mộ và tán thưởng...Tâm nở dạ, cơ lè lưỡi...
=> Cả đoạn thơ mang đậm chất lãng mạng và thể hiện tư tưởng thoát li trước cuộc đời
3. Thi nhân trò chuyện với trời
a) Thi nhân kể về hoàn cảnh của mình
Thi nhân kể họ tên, quê quán:
" Con tên Khắc Hiếu họ Nguyễn
Quê ở Á châu về địa cầu
Sông Đà núi Tản nước Việt Nam"
Trong văn chương việc thể hiện họ tên trong tác phẩm chính là một cáh để khẳng định cái tôi cá nhân của mình. Thi nhân kể về cuộc sống: Đó là môt cuộc sống nghèo khó, túng thiếu, thân phận nhà văn bị rẻ rúng, coi thường. Ở trần gian ông không tìm được tri âm, nên phải lên tận cỏi trời để thoả nguyện nỗi lòng.
"Bẩm trời hoàng cảnh con thực nghèo khó"
"Trần gian thước đất cũng không có"
"Văn chương hạ giới rẻ như bèo"
"Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu"
Đó cũng chính là hiện thực cuộc sống của người nghệ sĩ trong xã hội lúc bấy giờ, một cuộc sống cơ cực không tấc đất cắm dùi, thân phận bĩ rẻ rúng, làm chẳng đủ ăn.
=> Qua đoạn thơ tác giả đã cho người đọc thấy một bức tranh chân thực và cảm động về chính cuộc đời mình và cuộc đời nhiều nhà văn nhà thơ khác.
=> Cảm hứng hiện thực bao trùm cả đoạn thơ này
b) Trách nhiệm và khát vọng của thi nhân
Nhiệm vụ trời giao: Truyền bá thiên lương. Nhiệm vụ trên chứng tỏ Tản Đà lãng mạn chứ không hoàn toàn thoát li cuộc sống. Ông vẫn ý thức về nghĩa vụ, trách nhiệm đối với đời để đem lại cuộc sống ấm no hành phúc hơn. Đó cũng là một cách tự khẳng định mình trước thời cuộc.
Thi nhân khát khao được gánh vác việc đời
=> Như vậy có thể nói trong thơ Tản đà cảm hứng lãng mạng và cảm hứng hiện thực đan xen khăng khít.
1.3. Tổng kết
1. Nội dung
Bài thơ thể hiện cái tôi cá nhân ngông nghênh, kiêu bạc, hào hoa và cái tôi cô đơn, bế tắc trước thời cuộc.
Có thể thấy nhà thơ đã tìm được hướng đi đúng đắn để khẳng định mình.
2. Nghệ thuật
Cách kể chuyện hóm hỉnh, có duyên, lôi cuốn người đọc.
Ngôn ngữ thơ chọn lọc, tinh tế, gợi cảm, không cách điệu, ước lệ.
Tác giả vừa là người kể chuyện vừa là nhân vật chính.
Cảm xúc bộc lộ thoải mái, tự nhiên, phóng túng.
Thể thơ thất ngôn trường thiên khá tự do.
Câu 1 : Ý nào sau đây chưa chính xác khi nói về Tản Đà?
A. Sinh ra và lớn lên trong buổi giao thời khi Hán học đã tàn mà Tây học vừa mới bắt đầu.
B. Vào những năm 20 của thế kỉ XX, tên tuổi ông nổi lên như một ngôi sao sáng trên thi đàn văn học
C. Thơ văn ông được xem như một gạch nối giữa hai thời đại văn học của dân tộc: Trung đại và Hiện đại.
D. Ông sáng tác thơ văn chủ yếu bằng chữ Hán.
Câu 2 : Bài thơ “Hầu trời” của Tản Đà được viết bằng:
A. chữ Nôm, thể thất ngôn tứ tuyệt.
B. chữ Nôm, thể thất ngôn trường thiên.
C. chữ Hán, thể thất ngôn trường thiên.
D. chữ quốc ngữ, thể thất ngôn trường thiên.
Câu 3 : Trong bài thơ “Hầu trời”, nhà thơ Tản Đà được mời lên Thiên đình để làm gì?
A. Phụ trách chợ văn trên Thiên đình.
B. Đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe.
C. Chịu phạt vì tội đọc thơ giữa đêm khuya làm Trời mất ngủ.
D. Dạy cho Trời và chư tiên làm thơ
Câu 4 : Dòng nào sau đây không thể hiện cái ngông của Tản Đà trong bài “Hầu trời”?
A. Xem mình bị đày xuống hạ giới vì tội ngông.
B. Không thấy ai tri âm với mình ngoài trời và tiên.
C. Tự cho mình văn hay khiến trời phải khen thưởng
D. Ý thức về tài năng và chí làm trai trong trời đất.
Câu 5 : Nét độc đáo về nghệ thuật của bài thơ Hầu trời là:
A. Thể thơ thể thất ngôn trường thiên tự do, không bị trói buộc bởi khuôn mẫu nào.
B. Ngôn từ hóm hỉnh, có duyên, lôi cuốn người đọc.
C. Cách biểu hiện cảm xúc tự do, phóng túng, bình dân.
D. Tất cả đều đúng.
Câu 6 : Từ phía người đọc, bút danh Tản Đà trước hết và chủ yếu muốn gợi liên tưởng đến điều gì trong tâm hồn, tính cách nhà thơ?
A. Tính cách "ngông" và xu hướng thoát li thực tại.
B. Tình yêu quê hương, đất nước.
C. Tính cách lãng mạn, phóng túng.
D. Niềm khao khát tự do, lòng trân trọng cái đẹp của tạo hóa.
Câu 7 : Qua câu chuyện "Hầu Trời" được Tản Đà hư cấu, kể lại bằng thơ, có thể thấy thơ trữ tình buổi giao thời đã thiên về nội dung, tính chất nào?
A. Nói chí một cách trịnh trọng.
B. Tỏ bày cảm xúc một cách lâm li, thống thiết.
C. Giãi bày cảm xúc một cách phóng khoáng.
D. Tỏ lòng một cách trang nghiêm.
Câu 8: Khí văn của Tản Đà được “nhà trời” so sánh với hình ảnh nào?
A. Mây chuyển, gió thoảng, sương, mưa sa, tuyết.
B. Sao băng, gió thoảng, sương, mưa sa, tuyết,
C. Sao băng, mây đen, gió thoảng.
D. Mưa, sao trời, gió thoảng, tuyết rơi.
Câu 9: Thái độ nghe đọc đoạn văn của Hằng Nga, Chức Nữ được miêu tả bằng từ ngữ nào?
A. Nở dạ
B. Lè lưỡi
C. Chau đôi mày
D. Lắng tai đứng
Câu 10: Nhận xét nào sau đây đúng với giọng điệu bài thơ “Hầu Trời” của Tản Đà ?
A. Hùng hồn, mạnh mè, nhiều cảm xúc.
B. Thoải mái, tự nhiên, khoáng đạt.
C. Buồn thảm, da diết, chứa chan.
D. Hóm hỉnh, sôi nổi, ngậm ngùi
Câu 11: Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là gì?
A. Cảm hứng trữ tình xen lẫn với hiện thực.
B. Cảm hứng lãng mạn.
C. Cảm hứng hiện thực xen lẫn với phê phán,
D. Cảm hứng phê phán, hài hước.
Câu 12: Ngôn ngữ trong bài thơ “Hầu trời” như thế nào?
A. Hồn nhiên, trong sáng, giàu cảm xúc.
B. Trầm lắng, nhẹ nhàng, trau chuốt.
C. Vui tươi, giàu nhạc điệu.
D. Giản dị, gần gũi lời ăn tiếng nói hàng ngày
 







Các ý kiến mới nhất