Tuần 13. Tỏ lòng (Thuật hoài)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Đào Mỹ Duyên
Người gửi: đào mỹ duyên
Ngày gửi: 06h:52' 02-11-2021
Dung lượng: 17.7 MB
Số lượt tải: 325
Nguồn: Đào Mỹ Duyên
Người gửi: đào mỹ duyên
Ngày gửi: 06h:52' 02-11-2021
Dung lượng: 17.7 MB
Số lượt tải: 325
Số lượt thích:
0 người
LỚP
10
VĂN HỌC VIỆT NAM
THUẬT HOÀI
Phạm Ngũ Lão
Đền thờ Phạm Ngũ Lão
a. Hoàn cảnh ra đời
Tướng sĩ phụ tử
a. Hoàn cảnh ra đời
Ra đời khoảng cuối năm 1284, trong không khí quyết chiến, quyết thắng giặc Mông - Nguyên của quân đội nhà Trần lần thứ 2
a. Hoàn cảnh ra đời
b. Nhan đề
Bày tỏ hoài bão
c. Thể loại:
Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật
d. Bố cục:
2 phần.
+ Hai câu đầu: Hình tượng con người và quân đội thời Trần.
+ Hai câu sau: Chí làm trai- tâm tình của tác giả
PHIÊN ÂM
DỊCH THƠ
Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu,
Tam quân tì hổ khí thôn ngưu.
Nam nhi vị liễu công danh trái,
Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu.
Múa giáo non song trải mấy thu,
Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu.
Công danh nam tử còn vương nợ,
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu.
Hãy so sánh giữa bản dịch và nguyên tác.
*So sánh giữa bản dịch và nguyên tác:
- Hoành sóc: cắp ngang ngọn giáo→ thế tĩnh→ tư thế chủ động, tự tin, điềm tĩnh của con người có sức mạnh, nội lực.
- Múa giáo→ thế động→ gợi trình độ thuần thục của nghề cung kiếm trong thao tác thực hành, có chút phô trương, biểu diễn.
→ Dịch chưa thật đạt→ Thơ Đường luật chữ Hán rất hàm súc, uyên bác, khó dịch cho thấu đáo.
→ Dịch giả muốn giữ đúng luật thơ (nhị tứ lục phân minh: chữ 2, 4, 6 đối thanh, bài thơ có luật trắc→ thanh 2, 4, 6: T-B-T)
- Khí thôn ngưu- “nuốt trôi trâu” → phù hợp với hình ảnh so sánh phóng đại: “ba quân như hổ báo”
a. Câu 1: Hình ảnh người tráng sĩ nhà Trần
a. Câu 1: hình ảnh người tráng sĩ nhà Trần
- Tầm vóc: con người đối diện với non sông đất nước→ lớn lao, kì vĩ, mang tầm vóc vũ trụ, sánh ngang, thậm chí như át cả ko gian bát ngát mở ra theo chiều rộng của núi sông trong thời gian dằng dặc (“mấy thu”- con số tượng trưng chỉ thời gian dài).
- Ba quân: 3 đạo quân (tiền- trung- hậu quân) → chỉ quân đội nhà Trần.
Sức mạnh vật chất và tinh thần quyết chiến quyết thắng, khí thế hào hùng của quan đội nhà Trần- đội quân mang hào khí Đông A, mang âm hưởng sử thi.
- Biện pháp nghệ thuật: so sánh phóng đại→Sức mạnh của quân đội nhà Trần - Sức mạnh của hổ báo (có thể “nuốt trôi trâu”)
b. Câu 2: hình ảnh quân đội nhà Trần
Ba quân như hổ báo, khí thế nuốt trôi trâu.
Ba quân như hổ báo, khí thế lấn át cả sao Ngưu trên bầu trời.
b. Câu 2: hình ảnh quân đội nhà Trần
* Tiểu kết: Qua 2 câu thơ đầu, tác giả đã khắc hoạ thành công tư thế của nhân vật trữ tình- người trai đời Trần và tư thế sức mạnh của dân tộc ta trong một thời điểm lịch sử với một tầm vóc và quyết tâm lớn. Nhân vật trữ tình ở đây mang tầm vóc sử thi, vẻ đẹp sử thi hoành tráng
=>Khí thế dũng mãnh của ba quân làm cho hình ảnh tráng sỹ thêm cao lớn, lồng lộng giữa đất trời. Mỗi cá nhân đều tìm thấy bóng dáng mình trong hào khí chung của dân tộc=> một thời đại cao đẹp của những con người cao đẹp.
Chữ Đông
bộ A
chữ Trần
+ Lập công (để lại sự nghiệp).
+ Lập danh (để lại tiếng thơm).
- Công danh trái: Món nợ công danh.
- Công danh nam tử: Sự nghiệp công danh của kẻ làm trai.
Công danh:
=> Quan niệm nhân sinh cao đẹp, tích cực của những con người chân chính, đặc biệt là những người làm trai: đó là niềm khao khát làm nên sự nghiệp, lưu lại tên tuổi mình cho hậu thế => niềm khao khát chính đáng.
Thừa tướng nhà Thục Hán
Gia Cát Lượng
“Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu”: Thẹn khi nghe người đời kể chuyện Vũ hầu- Gia Cát Lượng- Người đã có công lớn giúp Lưu Bị khôi phục cơ nghiệp nhà Hán.
=> Thẹn vì thấy mình thua kém người khác=> thua kém Vũ hầu, Gia Cát Lượng về tài, đức, trí.
=>Thể hiện ở lòng yêu nước căm thù giặc, tinh thần quật khởi, lòng tự hào dân tộc. Nó còn nằm trong những tâm tư sâu kín của con người, là tâm sự đáng kính của chàng trai đất Việt cũng là tâm trạng của cả thế hệ thanh niên thời bấy giờ. Hào khí ấy đã làm nên những chiến thắng lẫy lừng lưu danh sử sách.
III
TỔNG KẾT
TÌM HIỂU CHUNG
Tác giả:
Phạm Ngũ Lão (1255 -1320), là người văn võ song toàn và có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông.
Tác phẩm:
Ra đời trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông của vua tôi nhà Trần, thuộc thể thơ thất ngôn tứ tuyệt.
TÌM HIỂU VĂN BẢN
1. Hình ảnh người tráng sĩ nhà Trần
Hình tượng tráng sĩ nhà Trần hiên ngang lẫm liệt, nổi bật giữa không gian và thời gian.
Tư thế hiên ngang, lẫm liệt
Không gian rộng lớn của vũ trụ
Thời gian dài đằng đẵng
II. TÌM HIỂU VĂN BẢN
Hình ảnh quân đội nhà Trần
Hình ảnh: Tam quân: quân đội nhà Trần
So sánh, ẩn dụ: tì hổ
Thậm xưng: khí thôn ngưu
Sức mạnh, khí thế của quân đội, dân tộc
Hình ảnh tráng sĩ lồng vào hình ảnh dân tộc, đậm chất sử thi hoành tráng
3. Tâm sự của người tráng sĩ
Khát vọng lập công danh
Lý tưởng cao đẹp
Đức tính khiêm nhường
Nâng cao phẩm giá và nhân cách
TÌM HIỂU CHUNG
TÌM HIỂU VĂN BẢN
TỔNG KẾT
Thể thơ Đường luật ngắn gọn, súc tích
Hình ảnh giàu sức biểu cảm
Giọng thơ tràn đầy cảm xúc
Hình tượng người anh hùng vệ quốc hiên ngang lẫm liệt với lí tưởng và nhân cách cao đẹp
Vẻ đẹp và khí thế hào hùng của thời đại.
10
VĂN HỌC VIỆT NAM
THUẬT HOÀI
Phạm Ngũ Lão
Đền thờ Phạm Ngũ Lão
a. Hoàn cảnh ra đời
Tướng sĩ phụ tử
a. Hoàn cảnh ra đời
Ra đời khoảng cuối năm 1284, trong không khí quyết chiến, quyết thắng giặc Mông - Nguyên của quân đội nhà Trần lần thứ 2
a. Hoàn cảnh ra đời
b. Nhan đề
Bày tỏ hoài bão
c. Thể loại:
Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật
d. Bố cục:
2 phần.
+ Hai câu đầu: Hình tượng con người và quân đội thời Trần.
+ Hai câu sau: Chí làm trai- tâm tình của tác giả
PHIÊN ÂM
DỊCH THƠ
Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu,
Tam quân tì hổ khí thôn ngưu.
Nam nhi vị liễu công danh trái,
Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu.
Múa giáo non song trải mấy thu,
Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu.
Công danh nam tử còn vương nợ,
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu.
Hãy so sánh giữa bản dịch và nguyên tác.
*So sánh giữa bản dịch và nguyên tác:
- Hoành sóc: cắp ngang ngọn giáo→ thế tĩnh→ tư thế chủ động, tự tin, điềm tĩnh của con người có sức mạnh, nội lực.
- Múa giáo→ thế động→ gợi trình độ thuần thục của nghề cung kiếm trong thao tác thực hành, có chút phô trương, biểu diễn.
→ Dịch chưa thật đạt→ Thơ Đường luật chữ Hán rất hàm súc, uyên bác, khó dịch cho thấu đáo.
→ Dịch giả muốn giữ đúng luật thơ (nhị tứ lục phân minh: chữ 2, 4, 6 đối thanh, bài thơ có luật trắc→ thanh 2, 4, 6: T-B-T)
- Khí thôn ngưu- “nuốt trôi trâu” → phù hợp với hình ảnh so sánh phóng đại: “ba quân như hổ báo”
a. Câu 1: Hình ảnh người tráng sĩ nhà Trần
a. Câu 1: hình ảnh người tráng sĩ nhà Trần
- Tầm vóc: con người đối diện với non sông đất nước→ lớn lao, kì vĩ, mang tầm vóc vũ trụ, sánh ngang, thậm chí như át cả ko gian bát ngát mở ra theo chiều rộng của núi sông trong thời gian dằng dặc (“mấy thu”- con số tượng trưng chỉ thời gian dài).
- Ba quân: 3 đạo quân (tiền- trung- hậu quân) → chỉ quân đội nhà Trần.
Sức mạnh vật chất và tinh thần quyết chiến quyết thắng, khí thế hào hùng của quan đội nhà Trần- đội quân mang hào khí Đông A, mang âm hưởng sử thi.
- Biện pháp nghệ thuật: so sánh phóng đại→Sức mạnh của quân đội nhà Trần - Sức mạnh của hổ báo (có thể “nuốt trôi trâu”)
b. Câu 2: hình ảnh quân đội nhà Trần
Ba quân như hổ báo, khí thế nuốt trôi trâu.
Ba quân như hổ báo, khí thế lấn át cả sao Ngưu trên bầu trời.
b. Câu 2: hình ảnh quân đội nhà Trần
* Tiểu kết: Qua 2 câu thơ đầu, tác giả đã khắc hoạ thành công tư thế của nhân vật trữ tình- người trai đời Trần và tư thế sức mạnh của dân tộc ta trong một thời điểm lịch sử với một tầm vóc và quyết tâm lớn. Nhân vật trữ tình ở đây mang tầm vóc sử thi, vẻ đẹp sử thi hoành tráng
=>Khí thế dũng mãnh của ba quân làm cho hình ảnh tráng sỹ thêm cao lớn, lồng lộng giữa đất trời. Mỗi cá nhân đều tìm thấy bóng dáng mình trong hào khí chung của dân tộc=> một thời đại cao đẹp của những con người cao đẹp.
Chữ Đông
bộ A
chữ Trần
+ Lập công (để lại sự nghiệp).
+ Lập danh (để lại tiếng thơm).
- Công danh trái: Món nợ công danh.
- Công danh nam tử: Sự nghiệp công danh của kẻ làm trai.
Công danh:
=> Quan niệm nhân sinh cao đẹp, tích cực của những con người chân chính, đặc biệt là những người làm trai: đó là niềm khao khát làm nên sự nghiệp, lưu lại tên tuổi mình cho hậu thế => niềm khao khát chính đáng.
Thừa tướng nhà Thục Hán
Gia Cát Lượng
“Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu”: Thẹn khi nghe người đời kể chuyện Vũ hầu- Gia Cát Lượng- Người đã có công lớn giúp Lưu Bị khôi phục cơ nghiệp nhà Hán.
=> Thẹn vì thấy mình thua kém người khác=> thua kém Vũ hầu, Gia Cát Lượng về tài, đức, trí.
=>Thể hiện ở lòng yêu nước căm thù giặc, tinh thần quật khởi, lòng tự hào dân tộc. Nó còn nằm trong những tâm tư sâu kín của con người, là tâm sự đáng kính của chàng trai đất Việt cũng là tâm trạng của cả thế hệ thanh niên thời bấy giờ. Hào khí ấy đã làm nên những chiến thắng lẫy lừng lưu danh sử sách.
III
TỔNG KẾT
TÌM HIỂU CHUNG
Tác giả:
Phạm Ngũ Lão (1255 -1320), là người văn võ song toàn và có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông.
Tác phẩm:
Ra đời trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông của vua tôi nhà Trần, thuộc thể thơ thất ngôn tứ tuyệt.
TÌM HIỂU VĂN BẢN
1. Hình ảnh người tráng sĩ nhà Trần
Hình tượng tráng sĩ nhà Trần hiên ngang lẫm liệt, nổi bật giữa không gian và thời gian.
Tư thế hiên ngang, lẫm liệt
Không gian rộng lớn của vũ trụ
Thời gian dài đằng đẵng
II. TÌM HIỂU VĂN BẢN
Hình ảnh quân đội nhà Trần
Hình ảnh: Tam quân: quân đội nhà Trần
So sánh, ẩn dụ: tì hổ
Thậm xưng: khí thôn ngưu
Sức mạnh, khí thế của quân đội, dân tộc
Hình ảnh tráng sĩ lồng vào hình ảnh dân tộc, đậm chất sử thi hoành tráng
3. Tâm sự của người tráng sĩ
Khát vọng lập công danh
Lý tưởng cao đẹp
Đức tính khiêm nhường
Nâng cao phẩm giá và nhân cách
TÌM HIỂU CHUNG
TÌM HIỂU VĂN BẢN
TỔNG KẾT
Thể thơ Đường luật ngắn gọn, súc tích
Hình ảnh giàu sức biểu cảm
Giọng thơ tràn đầy cảm xúc
Hình tượng người anh hùng vệ quốc hiên ngang lẫm liệt với lí tưởng và nhân cách cao đẹp
Vẻ đẹp và khí thế hào hùng của thời đại.
 







Các ý kiến mới nhất