Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

[MỜI HỢP TÁC] Các kỳ thi Olympic Quốc tế 2026 (IMO - IEO - ISO)

Kính gửi Quý Lãnh đạo, Ban Giám hiệu và Quý Thầy/Cô, FermatTech (Đối tác Google tại VN) phối hợp cùng SCO Ấn Độ trân trọng kính mời tham gia 3 kỳ thi uy tín dành cho HS từ lớp 1 - 12: - IMO: Olympic Toán Quốc tế. - IEO: Olympic Tiếng Anh Quốc tế. - ISO: Olympic Khoa học...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tập huấn chuyên môn hè_GDCD (2)

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Dương Đức Triệu (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:34' 04-09-2009
Dung lượng: 109.1 KB
Số lượt tải: 36
Số lượt thích: 0 người
Tập huấn Môn GDCD THCS
Hải Hà ngày 20, 21 tháng 8 năm 2009
Phần III
Đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập
môn GDCD ở THCS
I/ Một số thuật ngữ
1. Kiểm tra
Kiểm tra là phương tiện và hình thức của đánh giá. Việc kiểm tra cung cấp những dữ kiện, những thông tin cần thiết làm cơ sở cho việc đánh giá. Trong dạy học có 4 loại kiểm tra là : Kiểm tra thăm dò ; kiểm tra kết quả ; kiểm tra xếp thứ bậc và kiểm tra năng lực tổng thể có định hướng. Thi cũng là kiểm tra nhưng có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt.
2. Đánh giá
- Trong giáo dục đánh giá được hiểu là quá trình thu thập và xử lí kịp thời, có hệ thống thông tin về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân của chất lượng và hiệu quả giáo dục, căn cứ vào mục tiêu dạy học (mục tiêu đào tạo) làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hành động giáo dục tiếp theo.
3. Đánh giá chất lượng và hiệu quả dạy học
- Đánh giá chất lượng và hiệu quả dạy học là quá trình thu thập và xử lí thông tin nhằm mục đích tạo cơ sở cho những quyết định về mục tiêu, chương trình, phương pháp dạy học, về những hoạt động khác có liên quan của nhà trường và ngành Giáo dục.
4. Đánh giá kết quả học tập
- Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập và xử lí thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của học sinh, về tác động và nguyên nhân của tình hình đó nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên và nhà trường, cho bản thân học sinh để họ học tập ngày một tiến bộ hơn.
-> Như vậy, đánh giá kết quả học tập của học sinh là một kế hoạch tổng thể gồm 3 công đoạn chủ yếu:
a) Thu thập thông tin.
b) Phân tích thông tin về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân của kết quả học tập.
c) Ra quyết định sư phạm.
Căn cứ vào mục đích đánh giá mà người ta phân thành 3 loại hình khác nhau:
         - Đánh giá chẩn đoán: được tiến hành trước một giai đoạn giáo dục nhất định nhằm đưa ra các chứng cứ để có thể dự kiến kết quả học tập cho giai đoạn đó.
         - Đánh giá quá trình: được tiến hành trong quá trình giáo dục nhằm cung cấp thông tin về những gì HS đã học được, vạch ra hành động tiếp theo (nội dung nào nên dạy và cách tiếp cận nào nên sử dụng,…) của quá trình dạy học đó.
         - Đánh giá tổng kết: được tiến hành tại cuối mỗi giai đoạn học tập, nhằm tổng kết thành tích học tập của học sinh một cách có hệ thống.
II. Mục đích kiểm tra đánh giá kết quả học tập
- Xác định thực trạng mức độ đạt được về kiến thức, kĩ năng, thái độ của học sinh so với mục tiêu và chuẩn chương trình.
- Giúp học sinh nhận ra sự tiến bộ cũng như tồn tại của mình, khuyến khích, thúc đẩy việc học tập của HS.
- Tìm ra nguyên nhân của mức độ chất lượng mà học sinh đạt được ; phán đoán những khả năng phát triển về kiến thức và các kĩ năng mà học sinh có thể đạt được trong giai đoạn tiếp theo.
- Giúp giáo viên và cán bộ quản lí giáo dục các cấp điều chinh việc tổ chức hoạt động dạy và học cho phù hợp, tìm những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc dạy và học.
III. Các hình thức và loại bài kiểm tra trong dạy học môn Giáo dục công dân trường Trung học cơ sở
1. Các hình thức kiểm tra
a/ Kiểm tra thường xuyên :
b/ Kiểm tra định kì :
c/ Kiểm tra tổng kết :
- Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo đối với môn Giáo dục công dân có 2 hình thức kiểm tra là kiểm tra thường xuyên và định kì.
2. Các loại bài kiểm tra môn Giáo dục công dân
trường THCS
a/ Kiểm tra miệng :
b/ Kiểm tra viết 15 phút :
c/ Kiểm tra viết 1 tiết giữa học kì :
Thời điểm kiểm tra : Giữa học kì I và giữa học kì II của năm học.
Phạm vi kiểm tra : Nội dung các bài đã học từ đầu học kì đến bài trước khi kiểm tra.
d/ Kiểm tra viết 1 tiết cuối học kì :
Thời điểm kiểm tra : Cuối học kì I và cuối học kì II của năm học.
Phạm vi kiểm tra : Nội dung các bài đã học từ đầu mỗi học kì đến bài cuối mỗi học kì.
e/ Kiểm tra thực hành :
3. Một số yêu cầu cơ bản của việc đổi mới kiểm tra môn Giáo dục công dân trường Trung học cơ sở
a/ Việc kiểm tra phải góp phần quan trọng vào việc rèn luyện phương pháp học tập cho HS.
b/ Việc kiểm tra phải bảo đảm tính khách quan, toàn diện, khoa học và trung thực.
c/ Phải căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ của môn học để xây dựng đề kiểm tra, từ đó mới xác định được mức độ đạt yêu cầu của chuẩn.
d/ Phái có sự phân hoá mức độ cho các loại đối tượng học sinh khác nhau nhằm khuyến khích HS phấn đấu vươn lên.
e/ Đổi mới công cụ kiểm tra, cụ thể là đổi mới các hình thức đề kiểm tra, kết hợp giữa hình thức trắc nghiệm khách quan, tự luận và hình thức quan sát động, nghiên cứu sản phẩm hoạt động của học sinh.
g/ Phối hợp các lực lượng trong việc kiểm tra, đánh giá
Tự kiểm tra, đánh giá và kiểm tra, đánh giá của học sinh và tập thể học sinh.
Kiểm tra, đánh giá của các lực lượng giáo dục trong nhà trường như giáo viên chủ nhiệm, các giáo viên bộ môn khác, cán bộ Đoàn, Đội.
Kiểm tra, đánh giá của gia đình và cộng đồng.
4 Hướng dẫn kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn GDCD
4.1. Kĩ thuật thiết kế câu hỏi kiểm tra
Hiện nay, ở cấp THCS đề kiểm tra được xây dựng theo ba mức độ của tư duy là: nhận biết, thông hiểu, vận dụng.
- Mức độ nhận biết : Là mức độ chỉ yêu cầu học sinh nhận ra, nhớ lại nội dung đã học.
- Mức độ thông hiểu : Mức độ này, yêu cầu học sinh nhận biết được các kiến thức cơ bản đã được thay đổi hoặc mở rộng ít nhiều so với kiến thức đã học. Để trả lời câu hỏi dạng này học sinh không chỉ dùng trí nhớ kiểu thuộc lòng mà chủ yếu dùng trí nhớ lôgíc, biết phân tích, lý giải và có thể khái quát (ở mức độ đơn giản) để tự rút ra kết luận trả lời câu hỏi trắc nghiệm hoặc nhận xét, đánh giá, giải thích, biết dùng ngôn ngữ riêng để diễn đạt,... trong câu tự luận.
- Mức độ vận dụng : Là mức độ yêu cầu học sinh hiểu rõ nội dung đã học để có thể liên hệ, đánh giá một vấn đề trong thực tế phù hợp với lứa tuổi hoặc đưa ra cách ứng xử phù hợp trong 1 tình huống cụ thể.
4.1.1. Câu hỏi tự luận
a/ Câu hỏi tự luận nhận biết : Là loại câu hỏi chỉ yêu cầu học sinh nhớ lại nội dung đã học để trình bày lại giống như vậy.
b/ Câu hỏi tự luận thông hiểu : Là câu hỏi yêu cầu học sinh dùng ngôn ngữ riêng để trình bày lại kiến thức đã học, tự rút ra kết luận hoặc nhận xét, đánh giá, giải thích,... về một vấn đề nào đó.
c/ Câu hỏi tự luận vận dụng : Loại câu hỏi này yêu cầu học sinh hiểu rõ nội dung đã học để có thể liên hệ, đánh giá một vấn đề trong thực tế phù hợp với lứa tuổi hoặc đưa ra cách ứng xử phù hợp trong một tình huống cụ thể.
* Ưu điểm và nhược điểm của câu hỏi tự luận
- Ưu điểm
+ Người ra đề mất ít thời gian ra đề và dễ dàng đưa ra câu hỏi.
+ Nếu sử dụng một cách hợp lí, câu hỏi tự luận có thể đánh giá được các cấp độ tư duy ở mức độ cao và khả năng viết của học sinh.
+ Câu hỏi tự luận còn giúp giáo viên dễ dàng nhận thấy những nhược điểm, hạn chế trong nhận thức, thái độ cũng như trong tư duy của học sinh để kịp thời điều chỉnh việc dạy và học.
- Nhược điểm
+ Câu hỏi tự luận thường chỉ chỉ kiểm tra được nội dung đã học trong một phạm vi hẹp và học sinh mất nhiều thời gian để trả lời cho một câu hỏi;
+ Các câu trả lời của học sinh có thể rất đa dạng, giáo viên mất nhiều thời gian chấm bài nên việc đánh giá có thể thiếu chính xác.
4.1.2. Câu hỏi trắc nghiệm khách quan
a) Trắc nghiệm khách quan là gì ?
-Trắc nghiệm khách quan là một phương tiện đo lường khả năng học tập của học sinh một cách tương đối chính xác nhờ số điểm được quyết định do bài trắc nghiệm tạo ra, không bị chi phối bởi tác động của người chấm bài.
b) Các loại trắc nghiệm khách quan :
Trắc nghiệm nhiều lựa chọn (có 1 phương án đúng)
Ví dụ :Hành vi nào sau đây thể hiện đúng sự tôn trọng lẽ phải ? (hãy khoanh tròn chữ cái trước câu mà em chọn)
A. Thấy bất kể việc gì có lợi cho mình cũng phải làm bằng được.
B. Luôn bảo vệ mọi ý kiến của mình.
C. Lắng nghe ý kiến của mọi người để tìm ra điều hợp lí.
D. Luôn luôn tán thành và làm theo số đông.( Câu hỏi kiểm tra bài 1, lớp 8 : Tôn trọng lẽ phải)
Lưu ý :
- Khi thiết kế câu hỏi có nhiều phương án lựa chọn cần tránh : có 2-3 câu trả lời đúng (mặc dù chưa đủ); có phương án “Tất cả đều đúng”, “Tất cả đều sai”.
- Phần dẫn phải có nội dung rõ ràng, không nêu đưa nhiều ý vào trong một câu. Nên hạn chế sử dụng câu dẫn dạng phủ định. Nếu câu dẫn có dạng phủ định thì phải in đậm từ phủ định và gạch chân dưới từ phủ định để học sinh biết và thận trọng khi trả lời.
Ví dụ :
Tài sản nào nêu dưới đây không phải là tài sản thuộc quyền sở hữu của công dân? (hãy khoanh tròn chữ cái trước câu mà em chọn)
A. Tiền lương, tiền công lao động.
B. Xe máy cá nhân có được do trúng giải thưởng sổ xố của Nhà nước.
C. Cổ vật được tìm thấy khi đào móng làm nhà.
D. Tiền tiết kiệm của người dân gửi trong ngân hàng Nhà nước.
( Câu hỏi kiểm tra bài 16, lớp 8 : Quyền sở hữu tài sản và nghĩa vụ tôn trọng tài sản của người khác)
* Trắc nghiệm đúng - sai
Ví dụ :
Hãy ghi chữ Đ tương ứng với câu đúng, chữ S tương ứng với câu sai vào ô trống trong cột II của bảng sau :
- Các câu trong phần dẫn nên viết ngắn gọn, không nên trích dẫn nguyên văn nội dung SGK ; tránh sử dụng những thuật ngữ mơ hồ, không xác định về mức độ như “thông thường”, “hầu hết” hoặc “luôn luôn”, “tất cả”, “không bao giờ”… vì học sinh dễ đoán được câu đó đúng hay sai.
- Loại câu này chỉ kiểm tra kiến thức ở mức độ “biết”, ít kích thích suy nghĩ, khả năng phân hoá học sinh là thấp; yếu tố ngẫu nhiên, may rủi nhiều hơn so với câu nhiều lựa chọn, có thể tới khoảng 50%. Do đó không nên lạm dụng dạng trắc nghiệm này.
Dạng trắc nghiệm ghép đôi (còn gọi là trắc nghiệm đối chiếu cặp đôi)
Ví dụ :
Trắc nghiệm điền khuyết
Trắc nghiệm điền khuyết có 2 loại :
- Loại thứ nhất : Có thể là những câu phát triển với một hoặc nhiều chỗ trống để học sinh phải điền 1 từ hoặc 1 cụm từ hay kí hiệu thích hợp nào đó. Loại này thường có cấu tạo gồm 3 phần : phần câu lệnh, phần nội dung và phần cung cấp thông tin.
+ Câu lệnh : Hãy chọn từ hoặc cụm từ đã cho điền vào chỗ trống ở các câu sau đây để được câu trả lời đúng.
+ Phần nội dung bao gồm những câu có chỗ để trống (…..) để điền từ thích hợp.
+ Phần cung cấp thông tin gồm những từ hoặc cụm từ cho trước, trong đó số cụm từ phải nhiều hơn số chỗ trống cần điền để tăng sự cân nhắc khi lựa chọn.
Ví dụ :
Hãy lựa chọn hai trong các từ, cụm từ :
- dùng chất kích thích
- mải chơi
- đánh bạc
để điền vào những chỗ trống trong các câu sau sao cho đúng :
Để phòng, chống tệ nạn xã hội, trẻ em không được............ , uống rượu, hút thuốc và .................. có hại cho sức khoẻ.
- Loại thứ hai : Có thể là những câu phát triển, không có phần cung cấp thông tin với một hoặc nhiều chỗ trống để học sinh phải điền 1 từ hoặc 1 nhóm từ hay kí hiệu thích hợp nào đó. Vì vậy, câu điền khuyết phải viết sao cho mỗi chỗ trống chỉ có một cụm từ được chọn là điền đúng, tránh tình trạng một chỗ trống mà thích ứng với nhiều cụm từ khác nhau, gây khó khăn cho việc chấm điểm, tính khách quan sẽ bị giảm.
Ví dụ :
Hãy điền những cụm từ còn thiếu trong các câu sau cho đúng :
+ Quốc tịch là căn cứ...................................................
+ Người có quốc tịch Việt Nam là công dân.......................................
Lưu ý:
- Bảo đảm mỗi chỗ trống chỉ điền được 1 từ hoặc cụm từ.
- Mỗi câu nên chỉ có 1 hoặc 2 chỗ trống được bố trí ở giữa hay cuối câu. Độ dài của các khoảng trống nên bằng nhau để học sinh không đoán được từ phải điền là dài hay ngắn.
- Hạn chế dùng những câu trích nguyên văn trong sách giáo khoa.
c) Ưu điểm, nhược điểm của trắc nghiệm khách quan
- Ưu điểm :
+ Chấm điểm nhanh, khá chính xác và khách quan.
+ Cung cấp phản hồi nhanh về kết quả học tập của học sinh.
+ Có thể kiểm tra, đánh giá trên diện rộng, trong một khoảng thời gian ngắn.
+ Đánh giá được khả năng nhận thức, vận dụng kiến thức của học sinh.
+ Góp phần rèn luyện các kĩ năng : dự đoán, ước lượng, lựa chọn phương án giải quyết nhanh…
+ Tạo cơ hội cho học sinh tự đánh giá khi giáo viên công bố đáp án và biểu điểm.
- Nhược điểm :
+ Khó đánh giá những mức độ nhận thức cao hơn của học sinh như phân tích, tổng hợp, đánh giá.
+ Dễ xảy ra lựa chọn theo cảm tính, dễ đoán mò, dễ quay cóp.
+ Khó đánh giá được khả năng tư duy, suy luận, kĩ năng viết, kĩ năng nói… của học sinh.
+ Soạn đề kiểm tra khó, chuẩn bị đề kiểm tra mất nhiều thời gian.
+ Không tạo được điều kiện cho học sinh tự phát hiện và giải quyết vấn đề.
4.1.3. Bài tập tình huống
a) Phân loại tình huống :
- Tình huống định hướng học sinh nhận xét, đánh giá,
- Tinh huống định hướng học sinh đề xuất cách ứng xử,
- Tình huống cho trước cách ứng xử để học sinh lựa chọn cách ứng xử phù hợp.
* Tình huống định hướng học sinh nhận xét, đánh giá:
Ví dụ :
Sau buổi học, để về nhà nhanh, Hoàng đã đi vào đường ngược chiều nên bị chú công an viết giấy xử phạt vi phạm hành chính.
Mẹ Hoàng cho rằng chú công an xử phạt như vậy là sai. Vì Hoàng mới 15 tuổi, chưa đến tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính.
Theo em, ý kiến của mẹ Hoàng là đúng hay sai ? Vì sao ?
(Bài tập tình huống dùng kiểm tra bài 15, lớp 9 : Vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí của công dân)
* Tình huống định hướng học sinh đề xuất cách ứng xử :
Ví dụ 1 : Đã một tháng nay, nhà ông Ba có nhiều người lén lút ra vào. Bí mật theo dõi, Hưng biết ông Ba thường xuyên tổ chức đánh bạc và cá độ bóng đá.
Theo em, Hưng nên làm gì?
(Bài tập tình huống dùng kiểm tra bài 13, lớp 8 : Phòng, chống tệ nạn xã hội)
- Tình huống định hướng học sinh đề xuất cách ứng xử có cấu trúc, gồm :
+ Nội dung của tình huống (sự kiện, vấn đề... cần giải quyết)
+ Câu hỏi nghiên cứu/câu hỏi định hướng giải quyết tình huống.
* Tình huống cho trước cách ứng xử để học sinh lựa chọn cách ứng xử phù hợp :
Ví dụ :
Nếu tình cờ phát hiện có kẻ buôn bán ma tuý, em sẽ lựa chọn cách ứng xử nào sau đây mà em cho là phù hợp nhất ? (hãy khoanh tròn chữ cái trước câu mà em chọn)
A. Lờ đi coi như không biết để tránh bị trả thù ;
B. Không làm gì vì đây là việc làm quá sức với học sinh lớp 8 ;
C. Báo ngay cho cha mẹ, hoặc thầy cô giáo hay người có trách nhiệm biết;
D. Bí mật theo dõi kẻ đó, khi phát hiện ra chứng cứ sẽ báo công an để góp phần phòng, chống ma tuý.
(Bài tập tình huống dùng kiểm tra bài 13, lớp 8 Phòng, chống tệ nạn xã hội)
b) Các bước để xây dựng một tình huống
- Bước 1 : Xác định nội dung kiểm tra cần bài tập tình huống
- Bước 2: Thu thập thông tin liên quan để viết tình huống
- Bước 3 : Viết tình huống
1/ Phác thảo tình huống
2/ Sửa chữa tình huống
3/ Sử dụng thử, hoặc hỏi ý kiến đồng nghiệp
4/ Hoàn thiện tình huống
* Yêu cầu sư phạm
+ Tình huống phải sát hợp với nội dung bài học, mục đích kiểm tra đánh giá.
+ Tình huống phải hấp dẫn và phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh
+ Tình huống phải gần gũi với cuộc sống thực của học sinh
+ Tình huống cần có độ dài vừa phải
+ Tình huống phải chứa đựng những mâu thuẫn cần giải quyết.
4.2. Quy trình biên soạn bộ đề kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh

Bước 1 : Xác định mục tiêu, mức độ, nội dung và hình thức kiểm tra
Bước 2 :
Thiết lập bảng 2 chiều - tiêu chí kĩ thuật cho đề kiểm tra (thiết lập bảng 2 chiều đối với đề kiểm tra 45 phút trở lên)
Lập một bảng có 2 chiều, trong đó, một chiều thể hiện nội dung, một chiều thể hiện các mức độ nhận thức cần kiểm tra.
b) Viết các chuẩn cần kiểm tra ứng với mỗi mức độ nhận thức, mỗi nội dung tương ứng trong từng ô của bảng.
c) Xác định số điểm cho từng nội dung kiến thức và từng mức độ nhận thức cần kiểm tra.
d) Xác định số lượng, hình thức cho các câu hỏi trong mỗi ô của bảng hai chiều.
(30% câu hỏi trắc nghiệm khách quan, 70% là câu hỏi tự luận và bài tập tình huống.)
Bước 3 : Thiết kế câu hỏi theo bảng hai chiều
- Căn cứ vào bảng hai chiều, giáo viên thiết kế câu hỏi cho đề kiểm tra. Cần xác định rõ nội dung, hình thức, lĩnh vực kiến thức và mức độ nhận thức cần đo qua từng câu hỏi và toàn bộ câu hỏi trong đề kiểm tra. Các câu hỏi phải được biên soạn sao cho đánh giá được chính xác mức độ đáp ứng chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu về thái độ được quy định trong chương trình môn học.
Bước 4 : Xây dựng đáp án và hướng dẫn chấm
Việc xây dựng đáp án và hướng dẫn chấm được thực hiện trên cơ sở bám sát bảng hai chiều. Điểm toàn bài kiểm tra học kì tính theo thang điểm 10, làm tròn số đến 0,5 điểm. Điểm của các câu trắc nghiệm được quy về thang điểm 10 (theo quan hệ tỉ lệ thuận).
Lưu ý : Sau khi có kết quả bài kiểm tra của học sinh, người ra đề cần rà soát lại đề một lần nữa, chỉnh sửa những điểm chưa hợp lí để những lần kiểm tra sau đạt chất lượng cao hơn.
4.3. Gợi ý đánh giá kết quả thực hành của học sinh
- Để đánh giá được kết quả học tập của học sinh về các mặt kiến thức, kĩ năng và thái độ, giáo viên cần sử dụng đa dạng các phương pháp khác nhau với nhiều kết quả học tập cụ thể của học sinh. Có nghĩa là : Ngoài kết quả của bài kiểm tra, giáo viên cần đánh giá thông qua các sản phẩm hoạt động của học sinh như : sản phẩm sưu tầm tư liệu, bài thu hoạch cá nhân, bản kế hoạch ; đánh giá thông qua hoạt động nhóm (đóng vai, lao động công ích...) ; khuyến khích học sinh tự đánh giá.
 
Gửi ý kiến

↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT  ↓