Bài 1 Thế giới kì ảo

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Giang Thanh
Ngày gửi: 07h:55' 16-01-2026
Dung lượng: 28.2 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Giang Thanh
Ngày gửi: 07h:55' 16-01-2026
Dung lượng: 28.2 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
• Nối cụm từ ở cột bên trái với ý nghĩa phù hợp ở cột bên phải sao cho phù hợp.
1. nước hết chuông rền
A. nỗi lòng nhớ nhà, nhớ quê
2. ngựa Hồ gầm gió
bắc, chim Việt cành
nam
B. thời gian qua nhanh, đời người đã đến
lúc kết thúc
3. khuynh thành khuynh
quốc
C. Điểm yếu chết người của đối tượng
4. gót chân A-sin
D. sức mạnh của sắc đẹp ở người phụ nữ
Bài 1:
Thế giới kì ảo
Tiết 4
Thực hành
tiếng Việt
Điển tích,
I. Điển tích, điển cố
1. Bài tập (SGK/17)
• GV: Cho hs xem vi deo: Điển tích của câu thành ngữ “có
tật giật mình”
https://www.youtube.com/watch?v=wGmVkZecW9A
• Hs: Xem video và đọc 2 câu thơ trích Nguyễn Du.
• GV: giải thích hs hiểu nguồn gốc của thành ngữ và cụm từ “
sen vàng”.
Đọc Tri thức ngữ văn trong SGK (tr. 9); và khung Nhận biết điển tích, điển
cố trong SGK (tr. 17 − 18) để hoàn thành
Nhận biết điển tích, điển cố
Điển tích, điển cố là gì?
Điển tích, điển cố tồn tại như thế nào trong VB?
Tác dụng của việc sử dụng điển tích, điển cố?
Muốn hiểu được ý nghĩa của điển tích, điển cố khi
đọc VB, cần phải làm gì?
Lấy ví dụ một điển tích, điển cố mà em biết.
2. Kết luận
- Điển tích là câu chuyện
trong sách xưa, được dẫn lại
một cách cô đúc trong văn bản
của các tác giả đời sau
- Điển cố là sự việc hay câu
chữ trong sách xưa, được dẫn
lại trong văn bản của các tác
giả đời sau.
- Điển tích, điển cố có quá trình hình thành và phát triển lâu dài,
gắn với văn hoá, văn học của thời xa xưa
- Lưu ý: điển tích, điển cố là hai khái niệm gần gũi nhau, được gọi
chung là ĐIỂN
*Nhận biết điển tích, điển cố
Ví
dụ:
điển
tích
từ
“Thần
thoại
Hy
+ Trung Quốc
Lạp”
+ gót chân A-sin : điểm yếu chết
người
của
cá
nhận,
đối
tượng
nào
đó
- Nguồn
+ Văn học cổ trong nước
gốc
+ quả táo bất hoà: chỉ nguyên nhân
hay mấu chốt của một cuộc tranh cãi,
xung đột gây tác hại lớn…
+ Văn học châu Âu
+ Trung Quốc
- Nguồn
gốc
+ Văn học cổ trong nước
+ Văn học châu Âu
- Cách nhận biết
+ Chú giải
+ Các tài liệu có liên
quan
- Một điển tích, điển cố xuất hiện trong văn bản chỉ là từ ngữ.
Nhưng đằng sau là một câu chuyện, sự tích, câu kinh, câu thơ…
Sương in mặt tuyết pha thân,
Sen vàng lãng đãng như gần như xa.
+ Gắn với điển tích: “Bước chân của người đẹp” - Vua Hậu Chủ thời
Ngũ Đại (Trung Quốc), do yêu bà phi, lấy vàng đúc thành những đoá
sen, đem lót xuống đất bảo phi đặt chân lên đó mà dạo bước, rồi nói:
“Mỗi bước đi nở một đoá sen vàng”.
- Một điển tích, điển cố xuất hiện trong văn bản chỉ là từ ngữ.
Nhưng đằng sau là một câu chuyện, sự tích, câu kinh, câu thơ…
Khoé thu ba gợn sóng khuynh thành
+ Khuynh thành: Nghiêng thành
+ Lấy từ câu thơ của Lý Diên Niên: Nhất cố khuynh nhân thành/ Tái
cố khuynh nhân quốc (Ngoảnh lại một lần làm nghiêng thành, ngoảnh
lại lần nữa làm nghiêng nước)
+ Gắn với điển cố dùng để nói về sức mạnh của sắc đẹp ở người phụ
nữ.
c. Tác dụng của điển tích, điển cố
- Trong thơ văn: làm câu thơ, câu văn trở nên hàm súc, trang nhã
Bấy lâu nghe tiếng má đào
Mắt xanh chẳng để ai vào có không?
+ Gắn với điển tích: lấy tích Nguyễn Tịch thời Tấn khi tiếp người
mình ưa thì nhìn thẳng nên để lộ tròng mắt xanh, khi tiếp người mình
ghét thì nghiêng để lộ tròng mắt trắng
+ Trong câu thơ: có ý đánh giá rất cao cách nhìn người của Thuý
Kiều
- Trong văn nghị luận: củng cố lí lẽ, làm tăng sức thuyết
phục của văn bản
+ Trong văn bản Hịch tướng sĩ: “Đặt mồi lửa vào dưới đống củi” –
vốn ở sách Hán thư với câu “Ôm mồi lửa đặt dưới đống củi rồi nằm
lên trên, lửa chưa kịp cháy vẫn cho là yên”
+ Dụng ý: làm việc gì cũng phải tính đến nguy cơ, hiểm hoạ
- Điển tích, điển cố được dùng rộng rãi trong các loại văn bản (thơ,
truyện, chèo, tuồng, văn nghị luận..), rất phổ biến trong văn học trung
đại
- Lưu ý: Nếu lạm dụng điển tích, điển cố, văn bản sẽ trở nên nặng nề,
khó hiểu, mòn sáo, hạn chế tính độc đáo.
II.
Luyện tập
-
HSHĐCN (5') làm bài tập 1 (SGK/17)
Đọc lại các chú thích ở chân trang của
văn bản “Chuyện người con gái Nam
Xương” và cho biết những trường hợp
sử dụng điển tích, điển cố. Nếu sách
giáo khoa không giải thích, em có hiểu
được ý nghĩa của các câu văn có sử
dụng điển tích, điển cố đó không? Vì
sao?
- Những điển tích, điển cố được sử dụng:
+ Mùa dưa chín quá kì
+ Nước hết chuông rền
+ Ngõ liễu tường hoa
+ Núi Vọng Phu
+ Ngọc Mị Nương
+ Cỏ Ngu mĩ
+ Tào Nga
+ Tinh Vệ
+ Ngựa Hồ gầm gió bắc
+ Chim Việt đậu cành nam
+ Quăng thoi đứng dậy
+ Tuy mẹ bậc đại hiền cũng phải
phân vân
+ Mất búa đổ ngờ
+ Ý dĩ đầy xe
+ Quang Võ đổ ngờ lão tưởng
+ Trói lại mà giết
+ Tào Tháo đến phụ ân nhân
Nếu sách giáo khoa không giải thích, em có hiểu được ý
nghĩa của các câu văn có sử dụng điển tích, điển cố đó
không? Vì sao?
- Điển tích, điển cố có nguồn gốc từ Văn hoá, văn học
xưa, các tác giả Việt Nam chủ yếu mượn từ văn học
Trung Quốc
- Mặc dù trong văn bản, điển tích, điển cố chỉ là từ ngữ,
nhưng đằng sau đó là những câu chuyện, lời thơ, kinh
sách…khá xa lạ với người đọc ngày nay
Khó để hiểu được ý nghĩa
Hoạt động nhóm
a. Các cụm từ in đậm đều ẩn chứa câu chuyện, sự tích nào đó.
b. Nghĩa của các từ cụm in đậm và tác dụng của việc sử dụng
các cụm từ đó trong ngữ cảnh
+ Điển tích Núi Vọng Phu (người đàn bà bồng con
ngóng chồng đến hoá đá): biểu tượng của tình yêu
sâu lặng, lòng thuỷ chung sắt son, khát vọng gắn bó
bền chặt giữa vợ chồng. Trong lời than trước khi
trẫm mình xuống sông, Vũ Nương nhắc điển tích này
để làm nổi bật sự xót xa của mình: đến tình cảm đáng
thương của nàng Vọng Phu, Vũ Nương cũng không
thể có được. Điều đó có nghĩa bi kịch của nàng sâu
sắc hơn nhiều
+ Ngọc Mị Nương, cỏ Ngu mĩ: đều nói đến
những điều linh thiêng, kì lạ của người đàn bà
sau chết. Chết mà vẫn tỏ sự trong trắng, thuỷ
chung. Nhắc đến hai điển tích này trong lời
than trước khi tự tử, Vũ Nương muốn sau khi
mình ra đi, người đời không hoài nghi về
phẩm giá của mình.
+ Điển tích về Tào Nga và Tinh Vệ: những người con gái có
cái chết hoàn toàn không giống việc lựa chọn cách trẫm mình
vì oan khuất của Vũ Nương. Do vậy, theo Phan Lang, cách
hành xử của Vũ Nương cũng phải khác: nên tìm đường trở về
quê nhà với người xưa
+ Điển tích Ngựa Hồ gầm gió Bắc, chim Việt đậu cành Nam:
muốn nói tuy được sống với các nàng tiên nơi cung nước, nhưng nỗi
nhớ nhà, nhớ quê luôn canh cánh trong lòng. Với điển tích này, Vũ
Nương đã bộc lộ tình cảm thật của mình, mặc dù trước đó nàng phải
chịu sự đối xử tệ bạc của chồng và hành động quyết liệt như muốn
rũ bỏ tất cả những gì thuộc về cuộc sống trần gian
HOẠT ĐỘNG NHÓM
BÀN
Có một ông lão kia sinh sống gần biên ải (tức Tái Ông). Nhà ông nuôi
một con ngựa quý. Thế nào nó tự nhiên đi vào đất bắc mất hút. Những người
quen biết đến nhà hỏi thăm, ông nói với họ: “Mất ngựa biết đâu lại là điềm
may”. Quả nhiên, mấy hôm sau con ngựa nọ trở về, lại “rủ” thêm mấy con tuấn
mã nữa đi cùng. Anh em láng giềng đến chia vui, ông lại chép miệng nói: “Ôi
dào! Được thêm ngựa biết đâu lại là hoạ đó”. Cầu được ước thấy! Con trai ông
thấy ngựa đẹp bèn mải mê tập cưỡi, phi ngựa suốt ngày để đến nỗi một hôm
ngã gãy cả chân. Tội quá! Trước sự kiện này, mọi người cho là tai hoạ, nhưng
Tái Ông vẫn ung dung: “Biết đâu lại là phúc đó!”. Mà cũng nghiệm vậy. Sau
đó, đất nước bị giặc giã, trai tráng tất thảy phải ra trận. Mà xung trận tiền thì
“mười thằng chết chín” là cái chắc. Riêng cậu con trai ông vì tàn tật mà được ở
lại và sống sót, ở với cha trọn đời, sinh con đẻ cái. Quả là “trong phúc có hoạ”,
“trong hoạ lại có phúc”. Sự đời thật khó mà lường.
- Ý nghĩa của điển tích “ngựa Tái Ông”: chỉ họa
phúc khôn lường, được không nên mừng, mất
không nên lo. Ngựa tái Ông họa phúc biết về đâu.
1. nước hết chuông rền
A. nỗi lòng nhớ nhà, nhớ quê
2. ngựa Hồ gầm gió
bắc, chim Việt cành
nam
B. thời gian qua nhanh, đời người đã đến
lúc kết thúc
3. khuynh thành khuynh
quốc
C. Điểm yếu chết người của đối tượng
4. gót chân A-sin
D. sức mạnh của sắc đẹp ở người phụ nữ
Bài 1:
Thế giới kì ảo
Tiết 4
Thực hành
tiếng Việt
Điển tích,
I. Điển tích, điển cố
1. Bài tập (SGK/17)
• GV: Cho hs xem vi deo: Điển tích của câu thành ngữ “có
tật giật mình”
https://www.youtube.com/watch?v=wGmVkZecW9A
• Hs: Xem video và đọc 2 câu thơ trích Nguyễn Du.
• GV: giải thích hs hiểu nguồn gốc của thành ngữ và cụm từ “
sen vàng”.
Đọc Tri thức ngữ văn trong SGK (tr. 9); và khung Nhận biết điển tích, điển
cố trong SGK (tr. 17 − 18) để hoàn thành
Nhận biết điển tích, điển cố
Điển tích, điển cố là gì?
Điển tích, điển cố tồn tại như thế nào trong VB?
Tác dụng của việc sử dụng điển tích, điển cố?
Muốn hiểu được ý nghĩa của điển tích, điển cố khi
đọc VB, cần phải làm gì?
Lấy ví dụ một điển tích, điển cố mà em biết.
2. Kết luận
- Điển tích là câu chuyện
trong sách xưa, được dẫn lại
một cách cô đúc trong văn bản
của các tác giả đời sau
- Điển cố là sự việc hay câu
chữ trong sách xưa, được dẫn
lại trong văn bản của các tác
giả đời sau.
- Điển tích, điển cố có quá trình hình thành và phát triển lâu dài,
gắn với văn hoá, văn học của thời xa xưa
- Lưu ý: điển tích, điển cố là hai khái niệm gần gũi nhau, được gọi
chung là ĐIỂN
*Nhận biết điển tích, điển cố
Ví
dụ:
điển
tích
từ
“Thần
thoại
Hy
+ Trung Quốc
Lạp”
+ gót chân A-sin : điểm yếu chết
người
của
cá
nhận,
đối
tượng
nào
đó
- Nguồn
+ Văn học cổ trong nước
gốc
+ quả táo bất hoà: chỉ nguyên nhân
hay mấu chốt của một cuộc tranh cãi,
xung đột gây tác hại lớn…
+ Văn học châu Âu
+ Trung Quốc
- Nguồn
gốc
+ Văn học cổ trong nước
+ Văn học châu Âu
- Cách nhận biết
+ Chú giải
+ Các tài liệu có liên
quan
- Một điển tích, điển cố xuất hiện trong văn bản chỉ là từ ngữ.
Nhưng đằng sau là một câu chuyện, sự tích, câu kinh, câu thơ…
Sương in mặt tuyết pha thân,
Sen vàng lãng đãng như gần như xa.
+ Gắn với điển tích: “Bước chân của người đẹp” - Vua Hậu Chủ thời
Ngũ Đại (Trung Quốc), do yêu bà phi, lấy vàng đúc thành những đoá
sen, đem lót xuống đất bảo phi đặt chân lên đó mà dạo bước, rồi nói:
“Mỗi bước đi nở một đoá sen vàng”.
- Một điển tích, điển cố xuất hiện trong văn bản chỉ là từ ngữ.
Nhưng đằng sau là một câu chuyện, sự tích, câu kinh, câu thơ…
Khoé thu ba gợn sóng khuynh thành
+ Khuynh thành: Nghiêng thành
+ Lấy từ câu thơ của Lý Diên Niên: Nhất cố khuynh nhân thành/ Tái
cố khuynh nhân quốc (Ngoảnh lại một lần làm nghiêng thành, ngoảnh
lại lần nữa làm nghiêng nước)
+ Gắn với điển cố dùng để nói về sức mạnh của sắc đẹp ở người phụ
nữ.
c. Tác dụng của điển tích, điển cố
- Trong thơ văn: làm câu thơ, câu văn trở nên hàm súc, trang nhã
Bấy lâu nghe tiếng má đào
Mắt xanh chẳng để ai vào có không?
+ Gắn với điển tích: lấy tích Nguyễn Tịch thời Tấn khi tiếp người
mình ưa thì nhìn thẳng nên để lộ tròng mắt xanh, khi tiếp người mình
ghét thì nghiêng để lộ tròng mắt trắng
+ Trong câu thơ: có ý đánh giá rất cao cách nhìn người của Thuý
Kiều
- Trong văn nghị luận: củng cố lí lẽ, làm tăng sức thuyết
phục của văn bản
+ Trong văn bản Hịch tướng sĩ: “Đặt mồi lửa vào dưới đống củi” –
vốn ở sách Hán thư với câu “Ôm mồi lửa đặt dưới đống củi rồi nằm
lên trên, lửa chưa kịp cháy vẫn cho là yên”
+ Dụng ý: làm việc gì cũng phải tính đến nguy cơ, hiểm hoạ
- Điển tích, điển cố được dùng rộng rãi trong các loại văn bản (thơ,
truyện, chèo, tuồng, văn nghị luận..), rất phổ biến trong văn học trung
đại
- Lưu ý: Nếu lạm dụng điển tích, điển cố, văn bản sẽ trở nên nặng nề,
khó hiểu, mòn sáo, hạn chế tính độc đáo.
II.
Luyện tập
-
HSHĐCN (5') làm bài tập 1 (SGK/17)
Đọc lại các chú thích ở chân trang của
văn bản “Chuyện người con gái Nam
Xương” và cho biết những trường hợp
sử dụng điển tích, điển cố. Nếu sách
giáo khoa không giải thích, em có hiểu
được ý nghĩa của các câu văn có sử
dụng điển tích, điển cố đó không? Vì
sao?
- Những điển tích, điển cố được sử dụng:
+ Mùa dưa chín quá kì
+ Nước hết chuông rền
+ Ngõ liễu tường hoa
+ Núi Vọng Phu
+ Ngọc Mị Nương
+ Cỏ Ngu mĩ
+ Tào Nga
+ Tinh Vệ
+ Ngựa Hồ gầm gió bắc
+ Chim Việt đậu cành nam
+ Quăng thoi đứng dậy
+ Tuy mẹ bậc đại hiền cũng phải
phân vân
+ Mất búa đổ ngờ
+ Ý dĩ đầy xe
+ Quang Võ đổ ngờ lão tưởng
+ Trói lại mà giết
+ Tào Tháo đến phụ ân nhân
Nếu sách giáo khoa không giải thích, em có hiểu được ý
nghĩa của các câu văn có sử dụng điển tích, điển cố đó
không? Vì sao?
- Điển tích, điển cố có nguồn gốc từ Văn hoá, văn học
xưa, các tác giả Việt Nam chủ yếu mượn từ văn học
Trung Quốc
- Mặc dù trong văn bản, điển tích, điển cố chỉ là từ ngữ,
nhưng đằng sau đó là những câu chuyện, lời thơ, kinh
sách…khá xa lạ với người đọc ngày nay
Khó để hiểu được ý nghĩa
Hoạt động nhóm
a. Các cụm từ in đậm đều ẩn chứa câu chuyện, sự tích nào đó.
b. Nghĩa của các từ cụm in đậm và tác dụng của việc sử dụng
các cụm từ đó trong ngữ cảnh
+ Điển tích Núi Vọng Phu (người đàn bà bồng con
ngóng chồng đến hoá đá): biểu tượng của tình yêu
sâu lặng, lòng thuỷ chung sắt son, khát vọng gắn bó
bền chặt giữa vợ chồng. Trong lời than trước khi
trẫm mình xuống sông, Vũ Nương nhắc điển tích này
để làm nổi bật sự xót xa của mình: đến tình cảm đáng
thương của nàng Vọng Phu, Vũ Nương cũng không
thể có được. Điều đó có nghĩa bi kịch của nàng sâu
sắc hơn nhiều
+ Ngọc Mị Nương, cỏ Ngu mĩ: đều nói đến
những điều linh thiêng, kì lạ của người đàn bà
sau chết. Chết mà vẫn tỏ sự trong trắng, thuỷ
chung. Nhắc đến hai điển tích này trong lời
than trước khi tự tử, Vũ Nương muốn sau khi
mình ra đi, người đời không hoài nghi về
phẩm giá của mình.
+ Điển tích về Tào Nga và Tinh Vệ: những người con gái có
cái chết hoàn toàn không giống việc lựa chọn cách trẫm mình
vì oan khuất của Vũ Nương. Do vậy, theo Phan Lang, cách
hành xử của Vũ Nương cũng phải khác: nên tìm đường trở về
quê nhà với người xưa
+ Điển tích Ngựa Hồ gầm gió Bắc, chim Việt đậu cành Nam:
muốn nói tuy được sống với các nàng tiên nơi cung nước, nhưng nỗi
nhớ nhà, nhớ quê luôn canh cánh trong lòng. Với điển tích này, Vũ
Nương đã bộc lộ tình cảm thật của mình, mặc dù trước đó nàng phải
chịu sự đối xử tệ bạc của chồng và hành động quyết liệt như muốn
rũ bỏ tất cả những gì thuộc về cuộc sống trần gian
HOẠT ĐỘNG NHÓM
BÀN
Có một ông lão kia sinh sống gần biên ải (tức Tái Ông). Nhà ông nuôi
một con ngựa quý. Thế nào nó tự nhiên đi vào đất bắc mất hút. Những người
quen biết đến nhà hỏi thăm, ông nói với họ: “Mất ngựa biết đâu lại là điềm
may”. Quả nhiên, mấy hôm sau con ngựa nọ trở về, lại “rủ” thêm mấy con tuấn
mã nữa đi cùng. Anh em láng giềng đến chia vui, ông lại chép miệng nói: “Ôi
dào! Được thêm ngựa biết đâu lại là hoạ đó”. Cầu được ước thấy! Con trai ông
thấy ngựa đẹp bèn mải mê tập cưỡi, phi ngựa suốt ngày để đến nỗi một hôm
ngã gãy cả chân. Tội quá! Trước sự kiện này, mọi người cho là tai hoạ, nhưng
Tái Ông vẫn ung dung: “Biết đâu lại là phúc đó!”. Mà cũng nghiệm vậy. Sau
đó, đất nước bị giặc giã, trai tráng tất thảy phải ra trận. Mà xung trận tiền thì
“mười thằng chết chín” là cái chắc. Riêng cậu con trai ông vì tàn tật mà được ở
lại và sống sót, ở với cha trọn đời, sinh con đẻ cái. Quả là “trong phúc có hoạ”,
“trong hoạ lại có phúc”. Sự đời thật khó mà lường.
- Ý nghĩa của điển tích “ngựa Tái Ông”: chỉ họa
phúc khôn lường, được không nên mừng, mất
không nên lo. Ngựa tái Ông họa phúc biết về đâu.
 







Các ý kiến mới nhất