THENGUYEN

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: The Nguyen
Ngày gửi: 22h:27' 22-09-2011
Dung lượng: 1.8 MB
Số lượt tải: 19
Nguồn:
Người gửi: The Nguyen
Ngày gửi: 22h:27' 22-09-2011
Dung lượng: 1.8 MB
Số lượt tải: 19
Số lượt thích:
0 người
* TRƯỜNG THPT VĨNH BÌNH BẮC*
BÁO CÁO TẬP HUẤN VỀ CÔNG TÁC GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM
17/9/2011
GV: Nguyễn Đình Thế
PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP
Thảo luận.
Chia sẻ kinh nghiệm
KĨ NĂNG TÌM HIỂU ĐẶC ĐIỂM
TÂM LÍ HỌC SINH TRUNG HỌC
MỤC TIÊU
Giáo viên phát biểu được quy luật phát triển tâm lí ở lứa tuổi HS trung học, làm cơ sở để tổ chức tìm hiểu đặc điểm tâm lí HS một cách phù hợp.
Kể được nguyên tắc, quy trình chung và những điều kiện cần thiết trong việc tổ chức tìm hiểu tâm lí HS.
Sử dụng được một số phương pháp, kĩ thuật đơn giản, ứng dụng vào tìm hiểu HS và bước đầu tự đưa ra được cách thức riêng, phù hợp để tìm hiểu HS ở mức độ nhất định.
Có thái độ khách quan, khoa học, thận trọng đối với việc tìm hiểu, đánh giá tâm lí HS và có ý thức tự rèn luyện thường xuyên để nâng cao trình độ kĩ năng tìm hiểu HS của bản thân.
1. Xác định quy luật phát triển tâm lí ở lứa tuổi HS THPT
BÀI TẬP SỐ 1
Thầy, Cô quan sát hình H1, H2 và trả lời các câu hỏi sau:
Câu 1: Kể ra những gì Thầy, Cô nhìn thấy ở hình H1, H2.
Câu 2: Thầy, Cô giải thích như thế nào về những gì nhìn thấy? Vì sao quả ở trên cây không giống nhau?
Câu 3: Thầy, Cô có thấy mối liên hệ nào giữa hình ảnh trên với học sinh của mình không?
H1 H2
KẾT LUẬN
Đặc thù mang tính quy luật trong sự phát triển tâm lí của học sinh lứa tuổi trung học gây ra những khó khăn nhất định cho giáo viên trong việc nhận diện, đánh giá, có tác động phù hợp đến học sinh. Điều này đòi hỏi phải có những cách thức phù hợp, khoa học, để có thể tìm hiểu học sinh một cách khách quan, đúng đắn.
Ở từng lứa tuổi (THCS hoặc THPT), có một số lĩnh vực thể hiện nét riêng, đặc thù của lứa tuổi, chi phối sự phát triển của các lĩnh vực khác và toàn bộ nhân cách học sinh. Đây là điều giáo viên chủ nhiệm cần nắm được để định hướng cho việc tìm hiểu học sinh một cách phù hợp.
2. Xác định các nguyên tắc, các bước, các điều kiện và các mặt cần tìm hiểu ở HS
BÀI TẬP SỐ 2
Hoạt động nhóm
Câu 4: Thầy, cô tìm hiểu tâm lí HS vào thời điểm nào?
Câu 5: Để tìm hiểu HS mang tính khách quan, khoa học, GVCN cần đảm bảo những nguyên tắc gì?
Câu 6: Tìm hiểu những đặc điểm tâm lí nào của HS?
Câu 7: Dùng cách thức nào để tìm hiểu tâm lí học sinh?
Câu 8: Lưu giữ những thông tin thu thập về HS như thế nào?
Câu 9: Qua thực tế công tác chủ nhiệm, thầy cô hãy kể lại 1 câu chuyện tìm hiểu tâm lí học sinh dựa trên các câu hỏi trên.
KẾT LUẬN
Hiện tượng tâm lí không thể được đo đạc một cách trực tiếp nhưng có thể đánh giá gián tiếp thông qua các sản phẩm hoạt động và các mối quan hệ giao tiếp. Đối với lứa tuổi HS trung học, đó là hoạt động học tập, các hoạt động chung khác của HS, giao tiếp của HS với người lớn ( trong gia đình, ở nhà trường, ngoài xã hội) và với bạn cùng lứa. Điều này thể hiện nguyên tắc gián tiếp, khách quan, xã hội – lịch sử trong nghiên cứu tâm lí học. Các nguyên tắc này cần được quán triệt trong tổ chức tìm hiểu tâm lí HS để đảm bảo thu được tư liệu một cách tin cậy nhất. Ngoài ra, từ phía GVCN cần tránh sự định kiến, nóng vội đối với HS.
Việc tổ chức tìm hiểu tâm lí HS cần tuân thủ các bước: Xác định mục đích, thời gian, phạm vi, điều kiện tìm hiểu, dướng phối hợp xử lí thông tin, hướng lưu trữ, khai thác thông tin về học sinh.
Nội dung tìm hiểu tùy theo mục đích và bám vào nhân cách HS.
a. Quy trình tìm hiểu tâm lí học sinh
1. Xác định rõ thời điểm và mục đích của việc tìm hiểu HS.
2. Xác định phạm vi cần tìm hiểu và đối tượng cung cấp thông tin đáng tin cậy.
3. Xác định cách thức, phương tiện, công cụ cần sử dụng để thu thập thông tin.
4. Xác định cách thức xử lí, phân tích các thông tin thu được.
5. Lên kế hoạch cụ thể, hợp lí.
6. Có thể phối hợp/ yêu cầu sự hỗ trợ với/ các giáo viên bộ môn khác cùng dạy ở lớp chủ nhiệm.
7. Tiến hành xử lí, phân tích thông tin về học sinh.
8. Tổ chức lưu trữ thông tin về học sinh sao cho an toàn, bí mật ( với những thông tin cần thiết ) nhưng có thể khai thác, cập nhật dễ dàng, thuận tiện khi cần thiết.
b. Gợi ý một số cách GVCN tìm hiểu HS
Nghiên cứu các tư liệu/hồ sơ về HS đã có từ những năm học trước.
Sử dụng các phiếu trưng cầu ý kiến do GVCN tự soạn thảo hoặc tham khảo có sẵn từ các nguồn khác.
Trò chuyện với học sinh trước và sau buổi học.
Cùng tham gia vào các hoạt động với học sinh.
Tổ chức cho HS viết bài luận theo chủ đề mở.
Yêu cầu HS viết những nhận xét tức thời về giờ học/buổi học.
Chụp ảnh, ghi hình; quan sát HS trực tiếp hoặc gián tiếp.
Tìm hiểu HS thông qua các đối tượng khác ( cha mẹ, giáo viên bộ môn, ban cán sự lớp, cán bộ đoàn,..)
…
Một số mẫu phiếu thu thập thông tin giáo viên tham khảo:
Phiếu quan sát học sinh
Phiếu tìm hiểu đặc điểm gia đình HS
KĨ NĂNG XÂY DỰNG KẾ HOẠCH
CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP
MỤC TIÊU
Hiểu được thực chất của kế hoạch chủ nhiệm và trình bày được quy trình xây dựng kế hoạch chủ nhiệm lớp.
Vận dụng được các kĩ thuật phân tích SWOT vào việc xây dựng kế hoạch chủ nhiệm lớp ( năm, tháng, tuần, công việc).
Tự giác, tích cực rèn luyện được kĩ năng lập kế hoạch chủ nhiệm lớp.
15
1/ Xác định khái niệm kế hoạch, lập kế hoạch, phân loại kế hoạch
BÀI TẬP SỐ 1
Câu hỏi 1: Trong thực tiễn làm công tác chủ nhiệm lớp, Thầy, Cô đã lập những loại kế hoạch nào?
Câu hỏi 2: Theo Thầy, Cô thực chất của việc lập Kế hoạch chủ nhiệm là gì?
KẾT LUẬN
Kế hoạch chủ nhiệm là chương trình hành động trong tương lai của lớp chủ nhiệm, nhằm xác định một cách chính xác lớp học của chúng ta muốn đi đến đâu và cần phải làm gì, làm như thế nào để đạt được điều đó.
Kế hoạch chủ nhiệm được xây dựng cho 3 năm
(gọi là kế hoạch chiến lược) và xây dựng cho 1 năm học ( gọi là kế hoạch năm học). Trong kế hoạch năm học có kế hoạch cho từng tháng, từng tuần gọi chung là Kế hoạch tháng, Kế hoạch tuần. Trong quá trình điều hành hoạt động lớp học GVCN phải hướng tới đạt những mục tiêu nhất định nên còn có Kế hoạch mục tiêu hoặc Kế hoạch chuyên môn của lớp chủ nhiệm
KẾT LUẬN (TT)
Lập kế hoạch chủ nhiệm là lựa chọn một trong những phương án hành động trong tương lai cho toàn bộ hoặc từng bộ phận trong bộ máy quản lí để đạt được mục tiêu mong đợi trên cơ sở khả năng hiện tại.
Kế hoạch chủ nhiệm lớp ở trường THCS, THPT thường được lập cho khoảng thời gian từ 1 đến 3 (hoặc 4) năm học.
2. Xây dựng cấu trúc bản Kế hoạch công tác chủ nhiệm
BÀI TẬP SỐ 2
Hoạt động nhóm
Câu hỏi 3: Từ thực tế công tác giáo viên chủ nhiệm, Thầy, cô hãy cho biết cấu trúc bản Kế hoạch chủ nhiệm gồm mấy phần? Nội dung của từng phần?
KẾT LUẬN
Cấu trúc kế hoạch chủ nhiệm bao gồm 9 nội dung cơ bản:
1. Đặc điểm môi trường lớp học ( từ việc phân tích SWOT)
2. Phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu, chỉ tiêu và các danh hiệu phấn đấu
3. Các biện pháp chính
4. Những chuyên đề đi sâu để rút kinh nghiệm.
5. Điều chỉnh kế hoạch.
6. Kế hoạch từng tháng ( từ tháng 8 năm trước đến tháng 5 năm sau) – ( Dự kiến: Nội dung – Phân công – Thời gian).
7. Kế hoạch Sơ kết học kì ( học kì I từ tháng 8 năm trước đến tháng 1 năm sau; học kì II từ tháng 2 đến tháng 5) – ( Dự kiến: Nội dung – Phân công – Thời gian).
8. Kế hoạch tổng kết năm học ( Dự kiến : Nội dung – Phân công – Thời gian).
9. Kế hoạch hoạt động hè ( Dự kiến: Nội dung – Phân công – Thời gian)
* Cách xây dựng kế hoạch chủ nhiệm
Để xây dựng kế hoạch chủ nhiệm hiệu quả, khả thi, GVCN cần tuân thủ theo quy trình 6 bước sau:
Bước 1: Phân tích môi trường lớp học (SWOT).
Bước 2: Xây dựng định hướng chiến lược phát triển lớp học.
Bước 3: Xác định mục tiêu cần đạt của lớp học.
Bước 4: Xác định các giải pháp cần tiến hành để đạt được mục tiêu.
Bước 5: Xác định các đề xuất tổ chức thực hiện kế hoạch.
Bước 6: Viết văn bản và phê chuẩn văn bản kế hoạch của lớp trước khi thực hiện.
KĨ NĂNG TỔ CHỨC
GIỜ SINH HOẠT LỚP
Mục tiêu
Trình bày và phân tích được những yêu cầu cơ bản đối với giờ sinh hoạt lớp
Nêu được các hình thức tổ chức giờ sinh hoạt lớp ở trường trung học
Xây dựng được một số giờ SH lớp với các hình thức khác nhau theo hướng tăng cường sự tham gia và nâng cao vai trò tự quản của HS
1.Vai trò giáo dục của giờ SH lớp đối với HS
H1 H2
BÀI TẬP SỐ 1
1. Mô tả một đoạn ngắn (3 - 4 câu) về giờ sinh hoạt lớp thông qua hình ảnh vừa xem.
2. Qua thực tế tổ chức giờ SH lớp,Thầy, Cô chia sẻ những tác dụng giáo dục đối với HS?
3. Bằng kinh nghiệm của mình, Thầy, Cô chia sẻ:
- Những nguyên nhân làm cho HS không thích giờ sinh hoạt?
- Những nguyên nhân làm cho HS thích giờ sinh hoạt ?
KẾT LUẬN
A.Tác dụng giáo dục của giờ sinh hoạt lớp
Đây là dạng hoạt động GD tập thể, là một hình thức tổ chức tự quản cho HS và là một trong những biện pháp cơ bản góp phần xây dựng tập thể học sinh đoàn kết. Thông qua giờ SH lớp, HS bày tỏ, chia sẻ tâm tư, tình cảm và tự đánh giá nhận xét nhau thẳng thắn
Đây cũng là dịp để HS làm quen với nhiều loại hình hoạt động khác nhau, giúp các em phát triển các kĩ năng cơ bản và cần thiết cho bản thân. Các em phải được vừa học vừa chơi, thi tài với nhau...Từ đây các em sẽ lĩnh hội được rất nhiều, góp phần phát triển nhân cách toàn diện của học sinh, tức là phát triển mọi mặt cả trí tuệ, tình cảm, đạo đức, thẩm mĩ và sức khỏe, thể chất... của học sinh
B. Nguyên nhân chính làm cho HS không thích giờ sinh hoạt lớp
HS không được cùng nhau tổ chức, tham gia
Nội dung khô cứng, lặp đi lặp lai, không thực sự gắn với nhu cầu của HS.
Hình thức tổ chức giờ sinh hoạt lớp đơn điệu, nhàm chán, không hứng thú với HS
GV quá nghiêm khắc, không gần gũi, thân thiện, không đặt mình vào vị trí của HS để hiểu các em
……
2/ Xác định những yêu cầu cơ bản đối với giờ
sinh hoạt lớp
BÀI TẬP SỐ 2
1.Thầy, Cô cho nhận xét về vai trò của HS và GV trong giờ sinh hoạt lớp dưới đây như thế nào?
a. “ Thầy chủ nhiệm lớp tớ nghiêm có tiếng, nên tiết sinh hoạt im phăng phắt, thầy chỉ định ai phát biểu, kể lể tình hình, báo cáo gì thì mới được nêu ý kiến, còn lại đừng ai nghĩ đến việc xung phong đứng lên yêng hùng kiểu “ Thưa Thầy, con nghĩ khác cơ ạ!” – Có bạn thừa nhận nhiều lúc muốn “ có lời” với mấy kiểu áp đặt của thầy chủ nhiệm đối với hoạt động của lớp lắm, nhưng rồi nghĩ “ một cánh én nhỏ chẳng làm nên mùa xuân” nên lại thôi ngay ý định. Điều tệ nhất là trong lớp cũng có nhiều “ cánh én” khác nghĩ thầm trong đầu hệt như bạn ấy và thế là cả một tập thể đã “ nối giáo” cho buổi sinh hoạt trở thành một chiều, vô cùng thụ động và chẳng có tác dụng gì nhiều với những vấn đề cần cả lớp cùng thảo luận”
b. “ Với tớ và hội bạn ở lớp thì tiết sinh hoạt lại nhẹ nhõm lắm, vì không phải là tiết học môn gì cả, tha hồ xả hơi với cả tranh thủ chép bài tập về nhà cho kịp các tiết sau. Cô giáo vừa hiền ít nói lại chả mấy khi tham gia tiết sinh hoạt, giao hết cho cán bộ lớp điều hành. Tụi cán bộ lớp cũng chả muốn chơi nổi làm gì, nên nói qua cho xong, rồi cũng yên phận về chỗ”
2. Thầy, Cô hãy chia sẻ một số cách thức mà Thầy, Cô đã sử dụng để tăng cường sự tham gia và nâng cao vai trò tự quản của HS trong giờ sinh hoạt lớp?
KẾT LUẬN
CÁC YÊU CẦU CƠ BẢN ĐỐI VỚI GIỜ SH LỚP
Đa dạng hoá về nội dung và hình thức tổ chức tiết SH lớp
Thu hút tối đa sự tham gia của mọi HS dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ, cố vấn của GV nhằm tăng cường vai trò tự quản của HS. Nói cách khác, học sinh phải là chủ thể của giờ SH lớp, phải được tham gia vào giờ SH lớp từ những vai trò và nhiệm vụ khác nhau như người thực thi nhiệm vụ được giao, người tổ chức, người khám phá và đánh giá hoạt động của họ, tập thể của họ
Tăng cường những nội dung SH có liên quan đến các công việc chung của lớp, phù hợp với nhu cầu và sở thích của HS
Đảm bảo giao lưu dưới hình thức đối thoại
3. Hình thức, phương pháp tổ chức giờ sinh hoạt lớp
BÀI TẬP SỐ 3
*Thầy, Cô hãy chia sẻ trong nhóm về các hình thức tổ chức giờ SH lớp mà mình thường sử dụng?
*Theo Thầy, Cô nên khen chê HS như thế nào trong giờ sinh hoạt lớp để phát huy hiệu quả giáo dục?
KẾT LUẬN
A. Các hình thức tổ chức giờ sinh hoạt lớp:
1.Tổng kết, đánh giá thi đua và xây dựng kế hoạch
a/ Đánh giá lại những hoạt động trong tuần
+ Từng tổ trưởng lần lượt báo cáo tình hình học tập cũng như việc thực hiện nội quy trường lớp của các thành viên trong tổ.
+ Lớp trưởng nhận xét ưu điểm, khuyết điểm về các hoạt động của lớp trong tuần qua: nề nếp, học tập, đạo đức…
+ Lớp phó phụ trách văn thể, lao động nhận xét từng mảng hoạt động do mình phụ trách.
+ GV tuyên dương những em học tốt, tham gia tốt các phong trào của lớp mà nhà trường đề ra; phê bình những HS không thuộc bài, làm bài tập ở nhà; nhắc nhở và yêu cầu HS về nhà suy nghĩ xem sẽ có hình phạt như thế nào đối với những em thường xuyên vi phạm.
b/ Lập kế hoạch tuần tiếp theo
2. Hình thức hỗn hợp: Tổng kết thi đua và sinh hoạt theo chủ đề
a/ Đánh giá tình hình chung của lớp trong tuần: Lớp trưởng đánh giá chung sau khi đã có sự thống nhất của các tổ. GVCN và HS bổ sung nếu thấy cần thiết.
b/ Thông báo những công việc chính trong tuần tới.
-> 2 nội dung trên nên tiến hành nhanh gọn khoảng 10’.
c/ Sinh hoạt theo chủ đề ( thời gian khoảng 35 phút): Nội dung sinh hoạt nên gắn với các hoạt động chủ điểm trong tháng, gắn với những ngày kỉ niệm lớn, gắn với các sự kiện chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội diễn ra ở địa phương, trong nước và trên thế giới,.. Hình thức sinh hoạt cũng đa dạng, có thể là thi văn nghệ giữa các tổ, có thể đố vui khoa học, có thể là sự giao lưu với người trong cuộc..
KẾT LUẬN
Các hình thức tổ chức giờ sinh hoạt lớp:
1.Tổng kết, đánh giá thi đua và xây dựng kế hoạch
2. Hình thức hỗn hợp: Tổng kết thi đua và sinh hoạt theo chủ đề
3. Thảo luận chuyên đề/ chủ điểm:
Nên giao lần lượt cho các tổ HS chủ trì, các tổ khác hổ trợ, tham gia. Khi tiến hành thảo luận chuyên đề cần lưu ý:
- Vấn đề hay chủ đề thảo luận phải phù hợp với hứng thú, nhu cầu và trình độ nhận thức chung của học sinh, có nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau.
- Vấn đề đưa ra thảo luận đòi hỏi sử dụng nhiều kiến thức và kinh nghiệm để đánh giá, kết luận hay sáng tạo ý tưởng mới.
- Môi trường thảo luận phải thuận lợi, an toàn, thoải mái để tất cả HS đều có cơ hội bày tỏ những ý kiến, quan điểm và chính kiến của mình.
- Người dẫn chương trình phải khéo léo dẫn dắt, khêu gợi sự mạnh dạn, tự tin, tích cực của mỗi HS trong lớp để thảo luận sôi nổi và có hiệu quả. vẫn tôn trọng ý kiến của các thành viên trong thảo luận.
- Nếu gặp khó khăn ( trong tình huống không thống nhất ý kiến…) cần mời người cố vấn hay GV giải đáp ( người cố vấn hay GV đóng vai trò là người trọng tài khoa học cho HS trong quá trình thảo luận).
KẾT LUẬN
Các hình thức tổ chức giờ sinh hoạt lớp:
1.Tổng kết, đánh giá thi đua và xây dựng kế hoạch
2. Hình thức hỗn hợp: Tổng kết thi đua và sinh hoạt theo chủ đề
3. Thảo luận chuyên đề/ chủ điểm
4. Giao lưu – đối thoại với người trong cuộc: SH lớp dưới hình thức giao lưu có thể được tổ chức nhân
các ngày lễ lớn của dân tộc hay của lứa tuổi học sinh…
Khi tiến hành tổ chức hoạt động giao lưu cần chú ý:
- Những vấn đề trao đổi giao lưu phải thiết thực, liên quan đến lợi ích và hứng thú của HS, đáp ứng nhu cầu của các em. Thu hút đông đảo HS tham gia.
- Người chủ trì cần có buổi làm việc trước với chuyên gia về mục tiêu, nội dung buổi nói chuyện, đặc điểm của đối tượng giao lưu như tuổi, lớp, những vấn đề được HS quan tâm nhiều hoặc đang vướng mắc; quy mô tổ chức, phương thức tiến hành;
- Khi tiến hành giao lưu cần kết hợp trò chuyện giữa người dẫn chương trình với khách mời giao lưu và trao đổi, trò chuyện giữa khách mời với người tham dự buổi giao lưu…
KẾT LUẬN
Các hình thức tổ chức giờ sinh hoạt lớp:
1.Tổng kết, đánh giá thi đua và xây dựng kế hoạch
2. Hình thức hỗn hợp: Tổng kết thi đua và sinh hoạt theo chủ đề
3. Thảo luận chuyên đề/ chủ điểm
4. Giao lưu – đối thoại với người trong cuộc
5. Tổ chức các hội thi ( văn nghệ, hiểu biết khoa học, HS thanh lịch…)
- Hội thi là một hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, trong đó tạo ra sân chơi hấp dẫn, mang tính thi đua, cạnh tranh giữa HS hoặc các nhóm HS để các em có cơ hội thể hiện tài năng, vẻ đẹp, cùng nhau chia sẻ, tiếp nhận những kiến thức có liên quan đến chủ đề đã được lựa chọn.
- Đây là hình thức tổ chứa hoạt động thổng hợp nhiều loại hình, đòi hỏi thời gian chuẩn bị công phu..
- Lưu ý: Công tác chuẩn bị tiến hành trước khi diễn ra cuộc thi từ 10 15 ngày ; Trước khi tiến hành hội thi 1 ngày, cần phải tiến hành tốt những công việc như sau:
+ Tạo không khí sôi nổi, phấn khởi cho hội thi thông qua chỉnh trang lớp học và nơi diễn ra hội thi, âm nhạc và các phương tiện âm thanh…
+ Họp BGK để phổ biến biểu điểm, quy cách chấm và tính điểm, xác định các yêu cầu đối với BGK và quy trình hoạt động của BGK hội thi.
B. Khi khen chê HS cần lưu ý một số vấn đề sau:
Khen ngợi phải cụ thể, gọi tên các phẩm chất
Khen ngợi phải chân thật, gây được cảm xúc tích cực nơi người khen
Cần khen ngay hành vi tích cực mới khi nó vừa xuất hiện nhất là với những em hay mắc khuyết điểm, những em học yếu, nhút nhát….
Khi phê bình HS cũng cần lưu ý là phê bình hành vi cụ thể chứ không khái quát hoá thành phẩm chất nhân cách
Khi phê bình không được chì chiết, nhắc đi nhắc lại những khuyết điểm đã xảy ra từ lâu ……
KĨ NĂNG GIẢI QUYẾT MÂU THUẪN
XUNG ĐỘT TRONG TẬP THỂ LỚP
MỤC TIÊU
Trình bày được các nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn để có thể ngăn ngừa và phát hiện các mâu thuẫn có thể xảy ra trong lớp.
Liệt kê được các nguyên tắc và các bước giải quyết mâu thuẫn một các tích cực.
Có thể vận dụng các nguyên tắc và quy trình/ các bước giải quyết mâu thuẫn vào thực tế.
Có thể hướng dẫn học sinh biết cách kiểm soát cơn giận và nắm được các bước tự giải quyết tích cực các mâu thuẫn với bạn bè.
1. Các nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn giữa học sinh và các cách học sinh giải quyết mâu thuẫn.
BÀI TẬP SỐ 1
Câu hỏi 1: Qua đọc các câu chuyện trên phương tiện thông tin và trong thực tiễn giáo dục, Thầy, Cô đã thấy giữa học sinh thường mâu thuẫn nhau về vấn đề gì? Nguyên nhân nảy sinh những mâu thuẫn đó?
Câu hỏi 2: Học sinh đã giải quyết mâu thuẫn đó như thế nào? Hậu quả của những cách giải quyết mâu thuẫn mang tính tiêu cực?
KẾT LUẬN
1. Nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn giữa học sinh với nhau:
Sự khác nhau về suy nghĩ và quan niệm.
Sự khác nhau về mong muốn/ nhu cầu về lợi ích cá nhân.
Sự hạn chế do cách nhìn nhận sự việc/ vấn đề.
Chỉ xuất phát từ ý muốn/ suy nghĩ chủ quan của mình, mà không biết thừa nhận, tôn trọng suy nghĩ, ý kiến quan điểm của người khác.
Có một số người hay thích gây hấn, hiếu chiến, thích người khác phái phục tùng, hay lệ thuộc vào mình.
Sự kèn cựa, đố kị, muốn hơn người của ai đó.
Sự định kiến phân biệt đối xử.
Sự bảo thủ, cố chấp.
Nói hoặc nghĩ không đúng về nhau.
Ngoài ra còn có những nguyên nhân khác.
KẾT LUẬN ( tiếp)
2. Các cách giải quyết HS đã sử dụng:
Nói chuyện với nhau để hiểu và thông cảm/ bỏ qua cho nhau.
Cãi nhau, sau đó giận nhau không chào hỏi nhau.
Đánh nhau, sau đó không thèm nhìn mặt nhau, có khi còn nuôi hận chờ dịp báo thù.
Đánh nhau một cách dã man, cố tình xúc phạm, hủy hoại tinh thần và thể chất nhau, thậm chí còn quay video clip đưa lên mạng.
Ngoài ra còn những cách giải quyết khác…
3. Hậu quả của cách giải quyết mâu thuẫn tiêu cực:
Hủy hoại lẫn nhau về thể chất và tinh thần.
Làm cho HS mất đi lòng yêu thương con người thay vào đó là sự lạnh lùng, độc ác.
Gây mất đoàn kết, tạo môi trường học tập không an toàn, không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng học tập mà còn làm cho HS không dám và không muốn đến trường.
2. Cách giải quyết mâu thuẫn giữa học sinh mang tính tích cực
BÀI TẬP SỐ 2
Thầy, cô đọc câu chuyện của Nam, Hoa và Thắng dưới đây và thảo luận trả lời các câu hỏi sau:
Câu hỏi 3: Trước khi giải quyết mâu thuẫn giữa HS, người GV cần ứng xử với chính bản thân mình như thế nào?
Câu hỏi 4: Các nguyên tắc mà người GV đã thể hiện khi giải quyết mâu thuẫn trong câu chuyện là gì?
Câu hỏi 5: Các bước mà GV sử dụng để khích lệ học sinh tự giải quyết mâu thuẫn với nhau trong câu chuyện là gì?
KẾT LUẬN
GVCN cần nhận thức rằng mâu thuẫn nảy sinh là tất
yếu, ngay cả trong trường hợp HS đã từng rất thân
nhau. Quan trọng là phải phát hiện kịp thời, nhận dạng
mâu thuẫn để chủ động giải quyết những mâu thuẫn nảy
sinh một cách phù hợp, tích cực. Đồng thời, GVCN cần
hướng dẫn HS cách kiểm soát cơn giận và biết tự giải
quyết tích cực các mâu thuẫn nảy sinh với bạn để tránh
bạo lực học đường và xây dựng tập thể lớp thân thiện.
Khi giải quyết mâu thuẫn giữa HS, GV cần phải kiểm
soát được cảm xúc của bản thân, nếu nhận thấy cảm
xúc tức giận thì cần thời gian để tạm lắng cơn tức giận
của mình trước đã để sau này không phải ân hận.
2. Các nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn
A. Quy tắc giải quyết bất hòa giữa HS dành cho GV.
1. Chỉ bắt đầu và tiếp tục giải quyết mâu thuẫn khi hai
bên đã thực sự bình tĩnh.
2. Yêu cầu các em tập trung vào vấn đề cần giải quyết,
thiện chí, không kích động nhau tức giận.
3. Đặt ra các câu hỏi trong tiến trình giải quyết bất hòa.
4. Khuyến khích cả hai bên nêu ý kiến và suy nghĩ, cảm
xúc của mình.
5. Lắng nghe cẩn thận và lắng nghe tích cực từng HS nói.
6. Chỉ dẫn và khuyến khích HS lắng nghe nhau.
7. Khuyến khích HS nhắc lại những gì người kia nói. Yêu
cầu mỗi bên đặt mình vào vị thế của nhau để suy ngẩm,
sau đó yêu cầu đôi bên đưa ra một vài cách giải quyết
sau khi cân nhắc đến suy nghĩ, quan điểm của bên kia.
8. Ghi nhận một cách trân trọng khả năng của HS trong
việc lắng nghe và giao tiếp.
9. Làm trọng tài. Tránh thiên vị, đứng về một phía.
10. Khuyến khích các em tìm ra những phương án hay cách giải quyết có thể chấp nhận được đối với cả đôi bên và cam kết thực hiện.
* Tránh buộc tội, quở mắng, trách cứ, xem thường, làm rối trí, cho giải pháp, phê phán, giảng giải đạo đức, đồng tình…
* Nếu một trong hai học sinh nói “không”, GV hãy yêu cầu mỗi em suy nghĩ tiếp về những việc mà HS này muốn cả hai cùng làm để giải quyết vấn đề. Đề nghị các em suy nghĩ về những giải pháp có thể có cho tới khi cả hai đồng ý rằng họ đã chọn được một giải pháp phù hợp, thỏa mãn cả hai bên và họ có thể thực hiện giải pháp này.
B. Quy tắc dành cho HS có mâu thuẫn, bất hòa khi giải quyết mâu thuẫn.
1. Sẳn sàng lắng nghe.
2. Sẵn lòng cùng nhau tìm kiếm giải pháp.
3.Các bước giải quyết mâu thuẫn
- Bước 1: Khám phá vấn đề: Chuyện gì đã xảy ra
- Bước 2: Tìm hiểu cảm xúc: Cảm thấy thế nào
- Bước 3: Đề ra giải pháp và lựa chọn giải pháp
( Muốn gì, muốn như thế nào?)
- Bước 4: Cam kết thực hiện
* Kĩ thuật được sử dụng để giải quyết mâu thuẫn giữa học sinh là yêu cầu từng bên lắng nghe người khác, phản hồi ý kiến và cảm xúc, mong muốn của người khác và nói ra những suy nghĩ, ý kiến của bản thân.
3. Vận dụng cách giải quyết mâu thuẫn tích cực vào các tình huống thực tiễn
Bài tập số 3
Mỗi nhóm được phân công hãy giải quyết một tình huống chứa đựng mâu thuẫn giữa HS với nhau bằng phương pháp sắm vai.
Tình huống 1:
Giờ ra chơi, một nhóm HS cùng lớp bước vào quán nước ở cổng trường, lúc đó Hưng đang ngồi uống nước trong quán. Một trong số này vô tình nhổ nước bọt vào chân Hưng. Hưng quay lại yêu cầu người HS đó phải xin lỗi, tuy nhiên người đó đã khước từ, không chịu xin lỗi, lại còn cười Hưng? Không kềm chế được Hưng đã đấm HS đó, thế là cuộc ẩu đả diễn ra. Nếu là GVCN của Hưng và nhóm HS kia, Thầy, Cô sẽ giải quyết mâu thuẫn giữa những HS này như thế nào?
Bài tập số 3
. Tình huống 2:
Giờ ra chơi có một vài HS lớp khác đến trêu HS lớp Thầy, Cô chủ nhiệm. Họ dùng những lời lẽ thô tục, thiếu văn hóa để châm chọc. Không chịu được HS lớp Thầy, Cô phản ứng lại. Nhóm HS lớp khác đe dọa sẽ dạy cho HS lớp thầy, cô một bài học sau giờ học. Biết được thông tin đó, Thầy, Cô sẽ giải quyết mâu thuẫn này như thế nào?
KẾT LUẬN
Trong thực tiễn giáo dục, người GVCN không chỉ quan tâm giải quyết những mâu thuẫn đã bộc lộ thành xung đột, mà còn phải quan tâm phòng tránh bằng cách trang bị cho các em cách ngăn ngừa mâu thuẫn bộc lộ và phát triển.
Khi giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh giữa HS cần dành thời gian để HS tạm lắng rồi yêu cầu các em tuân thủ các nguyên tắc và lắng nghe tích cực để tìm giải pháp giải quyết mâu thuẫn một cách tích cực nhất.
GVCN cần nhận thức và làm cho HS hiểu là điều quan trọng không phải là chuyện gì đã xảy ra mà là cách chúng ta ứng phó với nó như thế nào. Đó chính là điểm mấu chốt giúp con người đề phòng và kiểm soát thái độ, hành vi tiêu cực, để có thái độ và hành vi tích cực.
Kinh nghiệm tốt trong giáo dục học sinh
chưa ngoan
BÁO CÁO TẬP HUẤN VỀ CÔNG TÁC GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM
17/9/2011
GV: Nguyễn Đình Thế
PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP
Thảo luận.
Chia sẻ kinh nghiệm
KĨ NĂNG TÌM HIỂU ĐẶC ĐIỂM
TÂM LÍ HỌC SINH TRUNG HỌC
MỤC TIÊU
Giáo viên phát biểu được quy luật phát triển tâm lí ở lứa tuổi HS trung học, làm cơ sở để tổ chức tìm hiểu đặc điểm tâm lí HS một cách phù hợp.
Kể được nguyên tắc, quy trình chung và những điều kiện cần thiết trong việc tổ chức tìm hiểu tâm lí HS.
Sử dụng được một số phương pháp, kĩ thuật đơn giản, ứng dụng vào tìm hiểu HS và bước đầu tự đưa ra được cách thức riêng, phù hợp để tìm hiểu HS ở mức độ nhất định.
Có thái độ khách quan, khoa học, thận trọng đối với việc tìm hiểu, đánh giá tâm lí HS và có ý thức tự rèn luyện thường xuyên để nâng cao trình độ kĩ năng tìm hiểu HS của bản thân.
1. Xác định quy luật phát triển tâm lí ở lứa tuổi HS THPT
BÀI TẬP SỐ 1
Thầy, Cô quan sát hình H1, H2 và trả lời các câu hỏi sau:
Câu 1: Kể ra những gì Thầy, Cô nhìn thấy ở hình H1, H2.
Câu 2: Thầy, Cô giải thích như thế nào về những gì nhìn thấy? Vì sao quả ở trên cây không giống nhau?
Câu 3: Thầy, Cô có thấy mối liên hệ nào giữa hình ảnh trên với học sinh của mình không?
H1 H2
KẾT LUẬN
Đặc thù mang tính quy luật trong sự phát triển tâm lí của học sinh lứa tuổi trung học gây ra những khó khăn nhất định cho giáo viên trong việc nhận diện, đánh giá, có tác động phù hợp đến học sinh. Điều này đòi hỏi phải có những cách thức phù hợp, khoa học, để có thể tìm hiểu học sinh một cách khách quan, đúng đắn.
Ở từng lứa tuổi (THCS hoặc THPT), có một số lĩnh vực thể hiện nét riêng, đặc thù của lứa tuổi, chi phối sự phát triển của các lĩnh vực khác và toàn bộ nhân cách học sinh. Đây là điều giáo viên chủ nhiệm cần nắm được để định hướng cho việc tìm hiểu học sinh một cách phù hợp.
2. Xác định các nguyên tắc, các bước, các điều kiện và các mặt cần tìm hiểu ở HS
BÀI TẬP SỐ 2
Hoạt động nhóm
Câu 4: Thầy, cô tìm hiểu tâm lí HS vào thời điểm nào?
Câu 5: Để tìm hiểu HS mang tính khách quan, khoa học, GVCN cần đảm bảo những nguyên tắc gì?
Câu 6: Tìm hiểu những đặc điểm tâm lí nào của HS?
Câu 7: Dùng cách thức nào để tìm hiểu tâm lí học sinh?
Câu 8: Lưu giữ những thông tin thu thập về HS như thế nào?
Câu 9: Qua thực tế công tác chủ nhiệm, thầy cô hãy kể lại 1 câu chuyện tìm hiểu tâm lí học sinh dựa trên các câu hỏi trên.
KẾT LUẬN
Hiện tượng tâm lí không thể được đo đạc một cách trực tiếp nhưng có thể đánh giá gián tiếp thông qua các sản phẩm hoạt động và các mối quan hệ giao tiếp. Đối với lứa tuổi HS trung học, đó là hoạt động học tập, các hoạt động chung khác của HS, giao tiếp của HS với người lớn ( trong gia đình, ở nhà trường, ngoài xã hội) và với bạn cùng lứa. Điều này thể hiện nguyên tắc gián tiếp, khách quan, xã hội – lịch sử trong nghiên cứu tâm lí học. Các nguyên tắc này cần được quán triệt trong tổ chức tìm hiểu tâm lí HS để đảm bảo thu được tư liệu một cách tin cậy nhất. Ngoài ra, từ phía GVCN cần tránh sự định kiến, nóng vội đối với HS.
Việc tổ chức tìm hiểu tâm lí HS cần tuân thủ các bước: Xác định mục đích, thời gian, phạm vi, điều kiện tìm hiểu, dướng phối hợp xử lí thông tin, hướng lưu trữ, khai thác thông tin về học sinh.
Nội dung tìm hiểu tùy theo mục đích và bám vào nhân cách HS.
a. Quy trình tìm hiểu tâm lí học sinh
1. Xác định rõ thời điểm và mục đích của việc tìm hiểu HS.
2. Xác định phạm vi cần tìm hiểu và đối tượng cung cấp thông tin đáng tin cậy.
3. Xác định cách thức, phương tiện, công cụ cần sử dụng để thu thập thông tin.
4. Xác định cách thức xử lí, phân tích các thông tin thu được.
5. Lên kế hoạch cụ thể, hợp lí.
6. Có thể phối hợp/ yêu cầu sự hỗ trợ với/ các giáo viên bộ môn khác cùng dạy ở lớp chủ nhiệm.
7. Tiến hành xử lí, phân tích thông tin về học sinh.
8. Tổ chức lưu trữ thông tin về học sinh sao cho an toàn, bí mật ( với những thông tin cần thiết ) nhưng có thể khai thác, cập nhật dễ dàng, thuận tiện khi cần thiết.
b. Gợi ý một số cách GVCN tìm hiểu HS
Nghiên cứu các tư liệu/hồ sơ về HS đã có từ những năm học trước.
Sử dụng các phiếu trưng cầu ý kiến do GVCN tự soạn thảo hoặc tham khảo có sẵn từ các nguồn khác.
Trò chuyện với học sinh trước và sau buổi học.
Cùng tham gia vào các hoạt động với học sinh.
Tổ chức cho HS viết bài luận theo chủ đề mở.
Yêu cầu HS viết những nhận xét tức thời về giờ học/buổi học.
Chụp ảnh, ghi hình; quan sát HS trực tiếp hoặc gián tiếp.
Tìm hiểu HS thông qua các đối tượng khác ( cha mẹ, giáo viên bộ môn, ban cán sự lớp, cán bộ đoàn,..)
…
Một số mẫu phiếu thu thập thông tin giáo viên tham khảo:
Phiếu quan sát học sinh
Phiếu tìm hiểu đặc điểm gia đình HS
KĨ NĂNG XÂY DỰNG KẾ HOẠCH
CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP
MỤC TIÊU
Hiểu được thực chất của kế hoạch chủ nhiệm và trình bày được quy trình xây dựng kế hoạch chủ nhiệm lớp.
Vận dụng được các kĩ thuật phân tích SWOT vào việc xây dựng kế hoạch chủ nhiệm lớp ( năm, tháng, tuần, công việc).
Tự giác, tích cực rèn luyện được kĩ năng lập kế hoạch chủ nhiệm lớp.
15
1/ Xác định khái niệm kế hoạch, lập kế hoạch, phân loại kế hoạch
BÀI TẬP SỐ 1
Câu hỏi 1: Trong thực tiễn làm công tác chủ nhiệm lớp, Thầy, Cô đã lập những loại kế hoạch nào?
Câu hỏi 2: Theo Thầy, Cô thực chất của việc lập Kế hoạch chủ nhiệm là gì?
KẾT LUẬN
Kế hoạch chủ nhiệm là chương trình hành động trong tương lai của lớp chủ nhiệm, nhằm xác định một cách chính xác lớp học của chúng ta muốn đi đến đâu và cần phải làm gì, làm như thế nào để đạt được điều đó.
Kế hoạch chủ nhiệm được xây dựng cho 3 năm
(gọi là kế hoạch chiến lược) và xây dựng cho 1 năm học ( gọi là kế hoạch năm học). Trong kế hoạch năm học có kế hoạch cho từng tháng, từng tuần gọi chung là Kế hoạch tháng, Kế hoạch tuần. Trong quá trình điều hành hoạt động lớp học GVCN phải hướng tới đạt những mục tiêu nhất định nên còn có Kế hoạch mục tiêu hoặc Kế hoạch chuyên môn của lớp chủ nhiệm
KẾT LUẬN (TT)
Lập kế hoạch chủ nhiệm là lựa chọn một trong những phương án hành động trong tương lai cho toàn bộ hoặc từng bộ phận trong bộ máy quản lí để đạt được mục tiêu mong đợi trên cơ sở khả năng hiện tại.
Kế hoạch chủ nhiệm lớp ở trường THCS, THPT thường được lập cho khoảng thời gian từ 1 đến 3 (hoặc 4) năm học.
2. Xây dựng cấu trúc bản Kế hoạch công tác chủ nhiệm
BÀI TẬP SỐ 2
Hoạt động nhóm
Câu hỏi 3: Từ thực tế công tác giáo viên chủ nhiệm, Thầy, cô hãy cho biết cấu trúc bản Kế hoạch chủ nhiệm gồm mấy phần? Nội dung của từng phần?
KẾT LUẬN
Cấu trúc kế hoạch chủ nhiệm bao gồm 9 nội dung cơ bản:
1. Đặc điểm môi trường lớp học ( từ việc phân tích SWOT)
2. Phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu, chỉ tiêu và các danh hiệu phấn đấu
3. Các biện pháp chính
4. Những chuyên đề đi sâu để rút kinh nghiệm.
5. Điều chỉnh kế hoạch.
6. Kế hoạch từng tháng ( từ tháng 8 năm trước đến tháng 5 năm sau) – ( Dự kiến: Nội dung – Phân công – Thời gian).
7. Kế hoạch Sơ kết học kì ( học kì I từ tháng 8 năm trước đến tháng 1 năm sau; học kì II từ tháng 2 đến tháng 5) – ( Dự kiến: Nội dung – Phân công – Thời gian).
8. Kế hoạch tổng kết năm học ( Dự kiến : Nội dung – Phân công – Thời gian).
9. Kế hoạch hoạt động hè ( Dự kiến: Nội dung – Phân công – Thời gian)
* Cách xây dựng kế hoạch chủ nhiệm
Để xây dựng kế hoạch chủ nhiệm hiệu quả, khả thi, GVCN cần tuân thủ theo quy trình 6 bước sau:
Bước 1: Phân tích môi trường lớp học (SWOT).
Bước 2: Xây dựng định hướng chiến lược phát triển lớp học.
Bước 3: Xác định mục tiêu cần đạt của lớp học.
Bước 4: Xác định các giải pháp cần tiến hành để đạt được mục tiêu.
Bước 5: Xác định các đề xuất tổ chức thực hiện kế hoạch.
Bước 6: Viết văn bản và phê chuẩn văn bản kế hoạch của lớp trước khi thực hiện.
KĨ NĂNG TỔ CHỨC
GIỜ SINH HOẠT LỚP
Mục tiêu
Trình bày và phân tích được những yêu cầu cơ bản đối với giờ sinh hoạt lớp
Nêu được các hình thức tổ chức giờ sinh hoạt lớp ở trường trung học
Xây dựng được một số giờ SH lớp với các hình thức khác nhau theo hướng tăng cường sự tham gia và nâng cao vai trò tự quản của HS
1.Vai trò giáo dục của giờ SH lớp đối với HS
H1 H2
BÀI TẬP SỐ 1
1. Mô tả một đoạn ngắn (3 - 4 câu) về giờ sinh hoạt lớp thông qua hình ảnh vừa xem.
2. Qua thực tế tổ chức giờ SH lớp,Thầy, Cô chia sẻ những tác dụng giáo dục đối với HS?
3. Bằng kinh nghiệm của mình, Thầy, Cô chia sẻ:
- Những nguyên nhân làm cho HS không thích giờ sinh hoạt?
- Những nguyên nhân làm cho HS thích giờ sinh hoạt ?
KẾT LUẬN
A.Tác dụng giáo dục của giờ sinh hoạt lớp
Đây là dạng hoạt động GD tập thể, là một hình thức tổ chức tự quản cho HS và là một trong những biện pháp cơ bản góp phần xây dựng tập thể học sinh đoàn kết. Thông qua giờ SH lớp, HS bày tỏ, chia sẻ tâm tư, tình cảm và tự đánh giá nhận xét nhau thẳng thắn
Đây cũng là dịp để HS làm quen với nhiều loại hình hoạt động khác nhau, giúp các em phát triển các kĩ năng cơ bản và cần thiết cho bản thân. Các em phải được vừa học vừa chơi, thi tài với nhau...Từ đây các em sẽ lĩnh hội được rất nhiều, góp phần phát triển nhân cách toàn diện của học sinh, tức là phát triển mọi mặt cả trí tuệ, tình cảm, đạo đức, thẩm mĩ và sức khỏe, thể chất... của học sinh
B. Nguyên nhân chính làm cho HS không thích giờ sinh hoạt lớp
HS không được cùng nhau tổ chức, tham gia
Nội dung khô cứng, lặp đi lặp lai, không thực sự gắn với nhu cầu của HS.
Hình thức tổ chức giờ sinh hoạt lớp đơn điệu, nhàm chán, không hứng thú với HS
GV quá nghiêm khắc, không gần gũi, thân thiện, không đặt mình vào vị trí của HS để hiểu các em
……
2/ Xác định những yêu cầu cơ bản đối với giờ
sinh hoạt lớp
BÀI TẬP SỐ 2
1.Thầy, Cô cho nhận xét về vai trò của HS và GV trong giờ sinh hoạt lớp dưới đây như thế nào?
a. “ Thầy chủ nhiệm lớp tớ nghiêm có tiếng, nên tiết sinh hoạt im phăng phắt, thầy chỉ định ai phát biểu, kể lể tình hình, báo cáo gì thì mới được nêu ý kiến, còn lại đừng ai nghĩ đến việc xung phong đứng lên yêng hùng kiểu “ Thưa Thầy, con nghĩ khác cơ ạ!” – Có bạn thừa nhận nhiều lúc muốn “ có lời” với mấy kiểu áp đặt của thầy chủ nhiệm đối với hoạt động của lớp lắm, nhưng rồi nghĩ “ một cánh én nhỏ chẳng làm nên mùa xuân” nên lại thôi ngay ý định. Điều tệ nhất là trong lớp cũng có nhiều “ cánh én” khác nghĩ thầm trong đầu hệt như bạn ấy và thế là cả một tập thể đã “ nối giáo” cho buổi sinh hoạt trở thành một chiều, vô cùng thụ động và chẳng có tác dụng gì nhiều với những vấn đề cần cả lớp cùng thảo luận”
b. “ Với tớ và hội bạn ở lớp thì tiết sinh hoạt lại nhẹ nhõm lắm, vì không phải là tiết học môn gì cả, tha hồ xả hơi với cả tranh thủ chép bài tập về nhà cho kịp các tiết sau. Cô giáo vừa hiền ít nói lại chả mấy khi tham gia tiết sinh hoạt, giao hết cho cán bộ lớp điều hành. Tụi cán bộ lớp cũng chả muốn chơi nổi làm gì, nên nói qua cho xong, rồi cũng yên phận về chỗ”
2. Thầy, Cô hãy chia sẻ một số cách thức mà Thầy, Cô đã sử dụng để tăng cường sự tham gia và nâng cao vai trò tự quản của HS trong giờ sinh hoạt lớp?
KẾT LUẬN
CÁC YÊU CẦU CƠ BẢN ĐỐI VỚI GIỜ SH LỚP
Đa dạng hoá về nội dung và hình thức tổ chức tiết SH lớp
Thu hút tối đa sự tham gia của mọi HS dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ, cố vấn của GV nhằm tăng cường vai trò tự quản của HS. Nói cách khác, học sinh phải là chủ thể của giờ SH lớp, phải được tham gia vào giờ SH lớp từ những vai trò và nhiệm vụ khác nhau như người thực thi nhiệm vụ được giao, người tổ chức, người khám phá và đánh giá hoạt động của họ, tập thể của họ
Tăng cường những nội dung SH có liên quan đến các công việc chung của lớp, phù hợp với nhu cầu và sở thích của HS
Đảm bảo giao lưu dưới hình thức đối thoại
3. Hình thức, phương pháp tổ chức giờ sinh hoạt lớp
BÀI TẬP SỐ 3
*Thầy, Cô hãy chia sẻ trong nhóm về các hình thức tổ chức giờ SH lớp mà mình thường sử dụng?
*Theo Thầy, Cô nên khen chê HS như thế nào trong giờ sinh hoạt lớp để phát huy hiệu quả giáo dục?
KẾT LUẬN
A. Các hình thức tổ chức giờ sinh hoạt lớp:
1.Tổng kết, đánh giá thi đua và xây dựng kế hoạch
a/ Đánh giá lại những hoạt động trong tuần
+ Từng tổ trưởng lần lượt báo cáo tình hình học tập cũng như việc thực hiện nội quy trường lớp của các thành viên trong tổ.
+ Lớp trưởng nhận xét ưu điểm, khuyết điểm về các hoạt động của lớp trong tuần qua: nề nếp, học tập, đạo đức…
+ Lớp phó phụ trách văn thể, lao động nhận xét từng mảng hoạt động do mình phụ trách.
+ GV tuyên dương những em học tốt, tham gia tốt các phong trào của lớp mà nhà trường đề ra; phê bình những HS không thuộc bài, làm bài tập ở nhà; nhắc nhở và yêu cầu HS về nhà suy nghĩ xem sẽ có hình phạt như thế nào đối với những em thường xuyên vi phạm.
b/ Lập kế hoạch tuần tiếp theo
2. Hình thức hỗn hợp: Tổng kết thi đua và sinh hoạt theo chủ đề
a/ Đánh giá tình hình chung của lớp trong tuần: Lớp trưởng đánh giá chung sau khi đã có sự thống nhất của các tổ. GVCN và HS bổ sung nếu thấy cần thiết.
b/ Thông báo những công việc chính trong tuần tới.
-> 2 nội dung trên nên tiến hành nhanh gọn khoảng 10’.
c/ Sinh hoạt theo chủ đề ( thời gian khoảng 35 phút): Nội dung sinh hoạt nên gắn với các hoạt động chủ điểm trong tháng, gắn với những ngày kỉ niệm lớn, gắn với các sự kiện chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội diễn ra ở địa phương, trong nước và trên thế giới,.. Hình thức sinh hoạt cũng đa dạng, có thể là thi văn nghệ giữa các tổ, có thể đố vui khoa học, có thể là sự giao lưu với người trong cuộc..
KẾT LUẬN
Các hình thức tổ chức giờ sinh hoạt lớp:
1.Tổng kết, đánh giá thi đua và xây dựng kế hoạch
2. Hình thức hỗn hợp: Tổng kết thi đua và sinh hoạt theo chủ đề
3. Thảo luận chuyên đề/ chủ điểm:
Nên giao lần lượt cho các tổ HS chủ trì, các tổ khác hổ trợ, tham gia. Khi tiến hành thảo luận chuyên đề cần lưu ý:
- Vấn đề hay chủ đề thảo luận phải phù hợp với hứng thú, nhu cầu và trình độ nhận thức chung của học sinh, có nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau.
- Vấn đề đưa ra thảo luận đòi hỏi sử dụng nhiều kiến thức và kinh nghiệm để đánh giá, kết luận hay sáng tạo ý tưởng mới.
- Môi trường thảo luận phải thuận lợi, an toàn, thoải mái để tất cả HS đều có cơ hội bày tỏ những ý kiến, quan điểm và chính kiến của mình.
- Người dẫn chương trình phải khéo léo dẫn dắt, khêu gợi sự mạnh dạn, tự tin, tích cực của mỗi HS trong lớp để thảo luận sôi nổi và có hiệu quả. vẫn tôn trọng ý kiến của các thành viên trong thảo luận.
- Nếu gặp khó khăn ( trong tình huống không thống nhất ý kiến…) cần mời người cố vấn hay GV giải đáp ( người cố vấn hay GV đóng vai trò là người trọng tài khoa học cho HS trong quá trình thảo luận).
KẾT LUẬN
Các hình thức tổ chức giờ sinh hoạt lớp:
1.Tổng kết, đánh giá thi đua và xây dựng kế hoạch
2. Hình thức hỗn hợp: Tổng kết thi đua và sinh hoạt theo chủ đề
3. Thảo luận chuyên đề/ chủ điểm
4. Giao lưu – đối thoại với người trong cuộc: SH lớp dưới hình thức giao lưu có thể được tổ chức nhân
các ngày lễ lớn của dân tộc hay của lứa tuổi học sinh…
Khi tiến hành tổ chức hoạt động giao lưu cần chú ý:
- Những vấn đề trao đổi giao lưu phải thiết thực, liên quan đến lợi ích và hứng thú của HS, đáp ứng nhu cầu của các em. Thu hút đông đảo HS tham gia.
- Người chủ trì cần có buổi làm việc trước với chuyên gia về mục tiêu, nội dung buổi nói chuyện, đặc điểm của đối tượng giao lưu như tuổi, lớp, những vấn đề được HS quan tâm nhiều hoặc đang vướng mắc; quy mô tổ chức, phương thức tiến hành;
- Khi tiến hành giao lưu cần kết hợp trò chuyện giữa người dẫn chương trình với khách mời giao lưu và trao đổi, trò chuyện giữa khách mời với người tham dự buổi giao lưu…
KẾT LUẬN
Các hình thức tổ chức giờ sinh hoạt lớp:
1.Tổng kết, đánh giá thi đua và xây dựng kế hoạch
2. Hình thức hỗn hợp: Tổng kết thi đua và sinh hoạt theo chủ đề
3. Thảo luận chuyên đề/ chủ điểm
4. Giao lưu – đối thoại với người trong cuộc
5. Tổ chức các hội thi ( văn nghệ, hiểu biết khoa học, HS thanh lịch…)
- Hội thi là một hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, trong đó tạo ra sân chơi hấp dẫn, mang tính thi đua, cạnh tranh giữa HS hoặc các nhóm HS để các em có cơ hội thể hiện tài năng, vẻ đẹp, cùng nhau chia sẻ, tiếp nhận những kiến thức có liên quan đến chủ đề đã được lựa chọn.
- Đây là hình thức tổ chứa hoạt động thổng hợp nhiều loại hình, đòi hỏi thời gian chuẩn bị công phu..
- Lưu ý: Công tác chuẩn bị tiến hành trước khi diễn ra cuộc thi từ 10 15 ngày ; Trước khi tiến hành hội thi 1 ngày, cần phải tiến hành tốt những công việc như sau:
+ Tạo không khí sôi nổi, phấn khởi cho hội thi thông qua chỉnh trang lớp học và nơi diễn ra hội thi, âm nhạc và các phương tiện âm thanh…
+ Họp BGK để phổ biến biểu điểm, quy cách chấm và tính điểm, xác định các yêu cầu đối với BGK và quy trình hoạt động của BGK hội thi.
B. Khi khen chê HS cần lưu ý một số vấn đề sau:
Khen ngợi phải cụ thể, gọi tên các phẩm chất
Khen ngợi phải chân thật, gây được cảm xúc tích cực nơi người khen
Cần khen ngay hành vi tích cực mới khi nó vừa xuất hiện nhất là với những em hay mắc khuyết điểm, những em học yếu, nhút nhát….
Khi phê bình HS cũng cần lưu ý là phê bình hành vi cụ thể chứ không khái quát hoá thành phẩm chất nhân cách
Khi phê bình không được chì chiết, nhắc đi nhắc lại những khuyết điểm đã xảy ra từ lâu ……
KĨ NĂNG GIẢI QUYẾT MÂU THUẪN
XUNG ĐỘT TRONG TẬP THỂ LỚP
MỤC TIÊU
Trình bày được các nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn để có thể ngăn ngừa và phát hiện các mâu thuẫn có thể xảy ra trong lớp.
Liệt kê được các nguyên tắc và các bước giải quyết mâu thuẫn một các tích cực.
Có thể vận dụng các nguyên tắc và quy trình/ các bước giải quyết mâu thuẫn vào thực tế.
Có thể hướng dẫn học sinh biết cách kiểm soát cơn giận và nắm được các bước tự giải quyết tích cực các mâu thuẫn với bạn bè.
1. Các nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn giữa học sinh và các cách học sinh giải quyết mâu thuẫn.
BÀI TẬP SỐ 1
Câu hỏi 1: Qua đọc các câu chuyện trên phương tiện thông tin và trong thực tiễn giáo dục, Thầy, Cô đã thấy giữa học sinh thường mâu thuẫn nhau về vấn đề gì? Nguyên nhân nảy sinh những mâu thuẫn đó?
Câu hỏi 2: Học sinh đã giải quyết mâu thuẫn đó như thế nào? Hậu quả của những cách giải quyết mâu thuẫn mang tính tiêu cực?
KẾT LUẬN
1. Nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn giữa học sinh với nhau:
Sự khác nhau về suy nghĩ và quan niệm.
Sự khác nhau về mong muốn/ nhu cầu về lợi ích cá nhân.
Sự hạn chế do cách nhìn nhận sự việc/ vấn đề.
Chỉ xuất phát từ ý muốn/ suy nghĩ chủ quan của mình, mà không biết thừa nhận, tôn trọng suy nghĩ, ý kiến quan điểm của người khác.
Có một số người hay thích gây hấn, hiếu chiến, thích người khác phái phục tùng, hay lệ thuộc vào mình.
Sự kèn cựa, đố kị, muốn hơn người của ai đó.
Sự định kiến phân biệt đối xử.
Sự bảo thủ, cố chấp.
Nói hoặc nghĩ không đúng về nhau.
Ngoài ra còn có những nguyên nhân khác.
KẾT LUẬN ( tiếp)
2. Các cách giải quyết HS đã sử dụng:
Nói chuyện với nhau để hiểu và thông cảm/ bỏ qua cho nhau.
Cãi nhau, sau đó giận nhau không chào hỏi nhau.
Đánh nhau, sau đó không thèm nhìn mặt nhau, có khi còn nuôi hận chờ dịp báo thù.
Đánh nhau một cách dã man, cố tình xúc phạm, hủy hoại tinh thần và thể chất nhau, thậm chí còn quay video clip đưa lên mạng.
Ngoài ra còn những cách giải quyết khác…
3. Hậu quả của cách giải quyết mâu thuẫn tiêu cực:
Hủy hoại lẫn nhau về thể chất và tinh thần.
Làm cho HS mất đi lòng yêu thương con người thay vào đó là sự lạnh lùng, độc ác.
Gây mất đoàn kết, tạo môi trường học tập không an toàn, không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng học tập mà còn làm cho HS không dám và không muốn đến trường.
2. Cách giải quyết mâu thuẫn giữa học sinh mang tính tích cực
BÀI TẬP SỐ 2
Thầy, cô đọc câu chuyện của Nam, Hoa và Thắng dưới đây và thảo luận trả lời các câu hỏi sau:
Câu hỏi 3: Trước khi giải quyết mâu thuẫn giữa HS, người GV cần ứng xử với chính bản thân mình như thế nào?
Câu hỏi 4: Các nguyên tắc mà người GV đã thể hiện khi giải quyết mâu thuẫn trong câu chuyện là gì?
Câu hỏi 5: Các bước mà GV sử dụng để khích lệ học sinh tự giải quyết mâu thuẫn với nhau trong câu chuyện là gì?
KẾT LUẬN
GVCN cần nhận thức rằng mâu thuẫn nảy sinh là tất
yếu, ngay cả trong trường hợp HS đã từng rất thân
nhau. Quan trọng là phải phát hiện kịp thời, nhận dạng
mâu thuẫn để chủ động giải quyết những mâu thuẫn nảy
sinh một cách phù hợp, tích cực. Đồng thời, GVCN cần
hướng dẫn HS cách kiểm soát cơn giận và biết tự giải
quyết tích cực các mâu thuẫn nảy sinh với bạn để tránh
bạo lực học đường và xây dựng tập thể lớp thân thiện.
Khi giải quyết mâu thuẫn giữa HS, GV cần phải kiểm
soát được cảm xúc của bản thân, nếu nhận thấy cảm
xúc tức giận thì cần thời gian để tạm lắng cơn tức giận
của mình trước đã để sau này không phải ân hận.
2. Các nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn
A. Quy tắc giải quyết bất hòa giữa HS dành cho GV.
1. Chỉ bắt đầu và tiếp tục giải quyết mâu thuẫn khi hai
bên đã thực sự bình tĩnh.
2. Yêu cầu các em tập trung vào vấn đề cần giải quyết,
thiện chí, không kích động nhau tức giận.
3. Đặt ra các câu hỏi trong tiến trình giải quyết bất hòa.
4. Khuyến khích cả hai bên nêu ý kiến và suy nghĩ, cảm
xúc của mình.
5. Lắng nghe cẩn thận và lắng nghe tích cực từng HS nói.
6. Chỉ dẫn và khuyến khích HS lắng nghe nhau.
7. Khuyến khích HS nhắc lại những gì người kia nói. Yêu
cầu mỗi bên đặt mình vào vị thế của nhau để suy ngẩm,
sau đó yêu cầu đôi bên đưa ra một vài cách giải quyết
sau khi cân nhắc đến suy nghĩ, quan điểm của bên kia.
8. Ghi nhận một cách trân trọng khả năng của HS trong
việc lắng nghe và giao tiếp.
9. Làm trọng tài. Tránh thiên vị, đứng về một phía.
10. Khuyến khích các em tìm ra những phương án hay cách giải quyết có thể chấp nhận được đối với cả đôi bên và cam kết thực hiện.
* Tránh buộc tội, quở mắng, trách cứ, xem thường, làm rối trí, cho giải pháp, phê phán, giảng giải đạo đức, đồng tình…
* Nếu một trong hai học sinh nói “không”, GV hãy yêu cầu mỗi em suy nghĩ tiếp về những việc mà HS này muốn cả hai cùng làm để giải quyết vấn đề. Đề nghị các em suy nghĩ về những giải pháp có thể có cho tới khi cả hai đồng ý rằng họ đã chọn được một giải pháp phù hợp, thỏa mãn cả hai bên và họ có thể thực hiện giải pháp này.
B. Quy tắc dành cho HS có mâu thuẫn, bất hòa khi giải quyết mâu thuẫn.
1. Sẳn sàng lắng nghe.
2. Sẵn lòng cùng nhau tìm kiếm giải pháp.
3.Các bước giải quyết mâu thuẫn
- Bước 1: Khám phá vấn đề: Chuyện gì đã xảy ra
- Bước 2: Tìm hiểu cảm xúc: Cảm thấy thế nào
- Bước 3: Đề ra giải pháp và lựa chọn giải pháp
( Muốn gì, muốn như thế nào?)
- Bước 4: Cam kết thực hiện
* Kĩ thuật được sử dụng để giải quyết mâu thuẫn giữa học sinh là yêu cầu từng bên lắng nghe người khác, phản hồi ý kiến và cảm xúc, mong muốn của người khác và nói ra những suy nghĩ, ý kiến của bản thân.
3. Vận dụng cách giải quyết mâu thuẫn tích cực vào các tình huống thực tiễn
Bài tập số 3
Mỗi nhóm được phân công hãy giải quyết một tình huống chứa đựng mâu thuẫn giữa HS với nhau bằng phương pháp sắm vai.
Tình huống 1:
Giờ ra chơi, một nhóm HS cùng lớp bước vào quán nước ở cổng trường, lúc đó Hưng đang ngồi uống nước trong quán. Một trong số này vô tình nhổ nước bọt vào chân Hưng. Hưng quay lại yêu cầu người HS đó phải xin lỗi, tuy nhiên người đó đã khước từ, không chịu xin lỗi, lại còn cười Hưng? Không kềm chế được Hưng đã đấm HS đó, thế là cuộc ẩu đả diễn ra. Nếu là GVCN của Hưng và nhóm HS kia, Thầy, Cô sẽ giải quyết mâu thuẫn giữa những HS này như thế nào?
Bài tập số 3
. Tình huống 2:
Giờ ra chơi có một vài HS lớp khác đến trêu HS lớp Thầy, Cô chủ nhiệm. Họ dùng những lời lẽ thô tục, thiếu văn hóa để châm chọc. Không chịu được HS lớp Thầy, Cô phản ứng lại. Nhóm HS lớp khác đe dọa sẽ dạy cho HS lớp thầy, cô một bài học sau giờ học. Biết được thông tin đó, Thầy, Cô sẽ giải quyết mâu thuẫn này như thế nào?
KẾT LUẬN
Trong thực tiễn giáo dục, người GVCN không chỉ quan tâm giải quyết những mâu thuẫn đã bộc lộ thành xung đột, mà còn phải quan tâm phòng tránh bằng cách trang bị cho các em cách ngăn ngừa mâu thuẫn bộc lộ và phát triển.
Khi giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh giữa HS cần dành thời gian để HS tạm lắng rồi yêu cầu các em tuân thủ các nguyên tắc và lắng nghe tích cực để tìm giải pháp giải quyết mâu thuẫn một cách tích cực nhất.
GVCN cần nhận thức và làm cho HS hiểu là điều quan trọng không phải là chuyện gì đã xảy ra mà là cách chúng ta ứng phó với nó như thế nào. Đó chính là điểm mấu chốt giúp con người đề phòng và kiểm soát thái độ, hành vi tiêu cực, để có thái độ và hành vi tích cực.
Kinh nghiệm tốt trong giáo dục học sinh
chưa ngoan
 







Các ý kiến mới nhất