Tuần 19. Lưu biệt khi xuất dương (Xuất dương lưu biệt)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thu Uyên
Ngày gửi: 14h:58' 09-01-2023
Dung lượng: 2.2 MB
Số lượt tải: 240
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thu Uyên
Ngày gửi: 14h:58' 09-01-2023
Dung lượng: 2.2 MB
Số lượt tải: 240
Số lượt thích:
0 người
LƯU BIỆT KHI
XUẤT DƯƠNG
( Xuất dương lưu
biệt)
Tổ 4
Nội dung thuyết trình
01
02
Tìm hiểu
chung
Tìm hiểu văn
bản
03
04
Content
You can describe the
topic of the section
here
Analysis
You can describe the
topic of the section
here
I. Tìm hiểu chung
1. Tác giả
-Phan Bội Châu (1867-1940) tên thuở nhỏ là Phan Văn Sản.
-Quê ở làng Đan Nhiễm, nay thuộc thị trấn Nam Đàn, huyện
Nam Đàn tỉnh Nghệ An.
-Cuộc đời:
+ Trước 1905: hoạt động trong nước.
+ Từ 1905-1925: hoạt động, bôn ba ở nước ngoài.
+ Từ 1925-1940: bị Pháp bắt giam và mất.
-Con người
+ Thông minh, học rộng
+ Là nhà Nho đầu tiên có tư tưởng tìm đường cứu nước
-Sự nghiệp văn chương
+ Khá đồ sộ: Việt Nam vong quốc sử (1905), Hải ngoại huyết thư (1906), Ngục trung
thư (1914), Trùng Quang tâm sử,…
-Quan niệm văn chương : “ Văn chương là vũ khí để tuyên truyền yêu nước và Cách
mạng”
Đặt nền móng cho thể loại trữ tình- chính trị, sử dụng văn chương, tiếng nói để đánh
kẻ thù.
Đánh giá chung
+ Sự nghiệp cứu nước của ông không thành nhưng tấm lòng yêu nước thiết
tha, nồng cháy của ông thì còn mãi với muôn đời.
+ Dù không xem văn chương là mục đích của cuộc đời mình nhưng nhiệm vụ
của người chiến sĩ cách mạng lại buộc ông cầm bút sáng tác phục vụ cho đấu
tranh cách mạng.
+ Với tư duy nhạy bén và và không ngừng đổi mới, tài năng sáng tạo đa
dạng , phong phú, Phan Bội Châu từng một thời làm rung động biết bao con
tim yêu nước bằng những vần thơ sục sôi nhiệt huyết của mình.
+ Trong vòng mấy chục năm đầu thế kỉ XX, Phan Bội Châu được coi là cây
bút xuất sắc nhất của văn thơ cách mạng.
II. Tìm hiểu văn bản
1. Hai câu đề: Quan niệm mới về chí làm trai của tác giả:
- Nếu đặt trong mạch nguồn của thơ ca trung đại, việc đề cập đến lý tưởng xã
hội này là điều rất dễ thấy. Danh tướng đời Trần Phạm Ngũ Lão đã từng đề
cập.
Công danh nam tử còn vương nợ,
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu
(Tỏ lòng – Phạm Ngũ Lão)
- Và đến với bài thơ ta lại bắt gặp lại về hình ảnh chí làm trai.
Làm trai phải lạ ở trên đời
Há để càn khôn tự chuyển dời
- Nhắc lại về chí làm trai: Cái chí của đấng nam nhi ở đây là công, là danh. Họ
trông vào đó mà tìm kiếm sự nghiệp, khẳng định bản thân mình trước cuộc đời,
trước mọi người.
Phiên âm
Dịch thơ
Sinh vi nam tử yếu hi kì
Khẳng định càn không tự chuyển di.
Làm trai phải lạ ở trên đời
Há để càn khôn tự chuyển dời
Câu thừa
: triển khai cụ thể ý câu trên bằng câu hỏi tu từ vừa là lời tự vấn, vừa là
•• Câu
pháđề
đề:
sự nhắc nhở:
--Con
được
đặtxoay
trong
mộtcàn
không
rộng lớn
khôn”
Điều người
lạ ấy chính
là việc
chuyển
khôn, gian
xoay chuyển
thời “càn
thế, không
thể buông
=>
làm
nổi
bật
hình
ảnh
con
người
trước
không
gian
kì
vĩ
xuôi cho số phận.
-Cảm hứng
sử thi,
lãng mạn
đãcủa
nângnam
tầm chí
làmPhải
trai lên
diện đờimạo mới.
-Khẳng
định
lẽ sống
đẹp
nhi:
lạ một
ở trên
nghĩa là phải
-Đặt trong bối cảnh ra đời bài thơ, hình ảnh đấng nam nhi mang tầm vóc vũ trụ ấy đã mở
biết
sống cho phi thường, hiển hách, phải dám mưu đồ việc lớn, kinh
đầu cho một khúc khải hoàn ca đầy hùng tráng, phi thường về ý chí và tinh thần yêu nước.
thiên
=>Tácđộng
giả nêuđịa.
lên quan niệm mới: là đấng nam nhi phải sống với khát vọng, mong muốn
làm nên điều kì lạ : “ yếu hi kì”, không cam chịu để cho trời đất xoay chuyển mình.
⇒ Tư thế, một tâm thế đẹp về chí nam nhi phải tin tưởng ở mức độ và tài năng của mình
⇒ Tuyên ngôn về chí làm trai.
2. Hai câu thực : Chí làm trai gắn với ý thức về cái tôi cá nhân.
Phiên âm
Dịch nghĩa
Ư bách niên trung tu hữu ngã
Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy.
Trong khoảng năm trời cần có tớ,
Sau này muôn thuở, há không ai?
-Khát tôi-ta
vọng tìm
cứu
nước
mãnh
liệt, lẽ sống vinh quang, không cam chịu cúi
-“Ngã”:
Cáiđường
tôi công
dân,
trách
nhiệm
đầu,
tin tưởng
thếcuộc
hệ
mai
tiếp
nốitrong
con đường
dựng
tảivào
hậu”:
Ngàn
năm
+ -“Thiên
Trách
nhiệm
trong
đời sau
hiện
tạisau
và
xã hội-lịch
sửnước, giữ nước.
-Trong
cảnh
đất
nước
sự
đô
củakhát
thực
dânmuốn
Pháp,phát
trải qua
sựvà
thất
cóchịu
tàigiả
khéo
đời
cổ
+ -“thùy”:
Từ ýhoàn
thứcTên
tráchngười
nhiệm
đó,
tác
thểhộ
hiện
vọng
huy hàng
hết tàiloạt
năng
chí
bại
của
các
phong
trào
yêu
nước
(tiêu
biểu
là
phong
trào
Cần
Vương)
Chí
sĩ
yêu
nước
khí,
muốnhỏi
cống
cho
đời,
danhnăm
thiên sau
cổ bằng
sự nghiệp
cứu
nước
cứu dân
-Câu
tuhiến
từ:
Lẽlòng->
nàolưu
ngàn
không
ai để
lại
tên tuổi
?
trở
nên
nhạt
nhòa,
nản
Bế
tắc,
không
tìm
được
đường
cứu
nước
=>Phù hợp với hoàn cảnh đất nước bấy giờ.
Hồi chuông
tỉnh, gửi
gắm văn
niềmhóm
tin vào
sausự hào hứng, hồ hởi khi đi tìm
- Bản
dịch thơ:cảnh
“tôi””tớ”
Giọng
hỉnh,thế
thểhệhiện
Nhận
đường xét:
cứu +Giọng
nước thơ đĩnh đạc, rắn rỏi
+ Thể hiện cái tôi trách nhiệm, lòng quyết tâm cứu nước,niềm tin vào
tương lai
3. Hai câu luận: Thái độ quyết liệt trước tình
cảnh đất nước
Phiên âm
Dịch thơ
Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế,
Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si!
Non sông đã chết, sống thêm nhục,
Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài!
3. Hai câu luận: Thái độ quyết liệt trước tình cảnh đất
nước
Non sông đã chết, sống thêm nhục,
-Thể hiện nhận thức của mình về thực trạng đất nước “non sông đã chết ” –
đất nước đã mất chủ quyền, đã rơi vào tay kẻ khác, tất cả những gì còn lại chỉ
là cái xác không hồn mà thôi.
-Tác giả đã bộc lộ trực tiếp cảm xúc của mình, cảm xúc của một người dân nô
lệ: nỗi nhục mất nước và thể hiện thái độ không cam chịu nỗi nhục ấy.
-Lẽ sống cao đẹp của thời đại được cô đúc trong lời thề quyết tử : “Thà chết
vinh còn hơn sống nhục”
3. Hai câu luận: Thái độ quyết liệt trước tình cảnh đất
nước
Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài!
-Nhận ra: sách vở thánh hiền không còn tác dụng gì trong thời cuộc mới của
đất nước (nước mất nhà tan)
-Phủ nhận nền học vấn Nho học (bản thân tác giả chính là con đẻ của nền học
vấn này, cho nên việc phủ nhận nền học vấn này chính là một thái độ vừa đau
đớn vừa quyết liệt .
→ Tư tưởng mới mẻ, táo bạo tiến bộ, tiên phong → Thái độ phủ nhận gay gắt
quyết liệt
Trong bản nguyên tác câu 6 là:
“kỉHiền
thánh
liêu
nhiên
diệcnghi
sĩ!” ngờ :
--Phan
Nguyễn
thếnhiệm
XIXvụ
cũng
từng
băntụng
khoăn,
BộiKhuyến
Châu đặt
giải đã
phóng
dân
tộc
lên
trước
hết. Ông nói bằng tất
Có nghĩa là:
“Sách
vởnhở
ích gì
cho
buổiphải
ấy đoạn tuyệt với lối học cử
cả nhiệt huyết và chân thành,
nhắc
mọi
người
“Thánh hiền đã
vắng
thì
có
đọc
sách
cũng
ngu thôi !”
Áo xiêm
thẹn mà
với phải
thânhăm
già;
tử, không thể đắm chìm trong
vòng nghĩ
hư danh,
hở đi tìm lí tưởng cao
Nghĩ
mình
cũng
gớm
cho
mình
nhỉ
cả.
- Chưa đến mức phủ nhận
tất cũng
cả giábia
lý Nho
gia
nhưng
đãvàng”.
cho thấy một quan
Thấy
xanh
cũng
bảng
-Trong
bài
carằng
chúcsách
tết thanh
niên
viết
vàogia
dịpđãTết
năm
kêu
điểm
rõBài
ràng
vở, đạo
đức
nho
từng
là 1927,
rườngcụ
cộtthiết
chotha
phong
gọi kiến
thanhViệt
niên: đã không còn có thể giúp ích được cho ta trong buổi nước
- Công
thànhNam
danh toại là thế, nhưng khi đất nước gặp ngoại xâm thì tất cả
chí từ nay xin gắng gỏi
mấtgì
nhà
tan. KhuyếnAicóhữu
những
Nguyễn
thể làm là cáo quan về ở ẩn, chỉ là nói được vài lời
Xếp
hút
nghiên
mà tu dưỡng
lấy tinh thần
- Ngược lại, nếu cứ khư
khư
nệlà
cũ,
chìm
“Đề
mấy
chữđắm
trêntrong
bia tư tưởng trung quân thì
Đừng
ham chơi, đừng ham mặc, ham ăn
chỉ làm mình ngu Rằng
thêm
mà thôi.
quan
nhà Nguyễn cáo về đã lâu”.
Dựng
gan
óc lên
đánhđược
tan sắt
- Tuy nhiên trong bản dịch thơ tác giả
chỉ nêu
rằnglửa
“học cũng hoài' mới
Xối
máu
nóng
rửa
vết
nhơ
nô
lệ…
chỉ nêuKhuyến
được sự
phủ tự
định
của
Châu
Nho
- Nguyễn
không
hào
vềPhan
hànhBội
động
cáovới
quan
vềhọc
ở ẩnchứ
màchưa
luôn làm
day dứt
Sống
như
thế
là
sống
đẹp.
Sống
như
thế
mới
mong
làm
nên
điều
lạ
ở
trên
đời,
nổilàbật
lên khí
tàng,là
dứt
của tác
mình
người
bất phách
lực, tựngang
nhận mình
kẻkhoát
thua cuộc
: giả.
mới
tựtự
khẳng
được:
Trong
khoảng
trăm
năm
cần
có
tớ. nhưng hé mở con
“Cờ
đang
dở
đang
còn
nước
⇒ Lời
bạchđịnh
về nỗi
đau
đớn,
xót
xa,cuộc
nỗi
tủi
nhục
mất
nước
Bạc chửa
thâu
canh đã chạy làng”
đường cách mạng rửa nhục
cho đất
nước.
4. Hai câu kết: Tư thế và khát vọng buổi
lên đường
Phiên âm:
Dịch thơ:
Nguyện trục trường phong Đông hải khứ,
Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi.
Muốn vượt bể Đông theo cánh gió
Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi
4. Hai câu kết Tư thế và khát vọng buổi lên đường.
Phiên âm:
Dịch thơ:
Nguyện trục trường phong Đông hải khứ,
Muốn vượt bể Đông theo cánh gió
Muốn vượt bể Đông theo cánh gió: Mong muốn cháy bỏng thực hiện khát vọng giải
phóng dân tộc.
-Hình ảnh “bể Đông” -> Không gian thiên nhiên, không gian vũ trụ bao la rộng lớn, con
đường đưa Phan Bội Châu thực hiện phong trào Đông Du.
-Từ “muốn” : mong muốn của tác giả: muốn đuổi theo ngọn gió dài đi qua biển Đông.
Mong muốn đạp bằng gian khó để thực hiện được khát vọng giải phóng dân tộc.
-So sánh bản dịch: Câu dịch thơ chỉ chú trọng đến ý vượt bể Đông mà không chú trọng
đến ý thơ. Nhà thơ ý thức được gian khó nhưng vẫn khao khát vượt qua, đuổi theo. Do
vậy bản dịch làm mất đi đôi chút về can trường, mạnh mẽ, lớn lao của nhân vật trữ tình
trong không gian bể Đông rộng lớn.
4. Hai câu kết Tư thế và khát vọng buổi lên đường .
Phiên âm:
Dịch thơ:
Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi.
Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi
Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi: Tư thế hiên ngang, hăm hở trong buổi lên đường.
-Hình ảnh: “thiên trùng”, “bạch lãng”: hình tượng thơ vừa kỳ vĩ, lớn lao vừa lãng mạn, thơ
mộng hòa nhập với con người trong tư thế cùng bay lên.
-Lối nói nhân hóa “muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi”: hình ảnh những con sóng bạc đầu
đưa tiễn nhân vật trữ tình trong buổi lên đường.
-So sánh phiên âm: Bản dịch thơ đã đánh mất cái tư thế trào lên, dâng lên, chỉ tái hiện
được không khí êm ả của buổi lên đường. Điều đó không phù hợp với không khí chung
của toàn bài, làm mất đi cái kì vĩ, hào sảng, đầy lãng mạn, hùng trángl của người chí sĩ
trong buổi lên đường.
Hình ảnh nhân vật trữ tình trong buổi lên đường thật đẹp,
thật hiên ngang, hào hùng giống như hình ảnh Từ Hải
trong buổi lên đường: “ Gió mây bằng đã đến kì dặm
khơi” (Truyện Kiều- Nguyễn Du)
Hình ảnh nhân vật trữ tình mang vẻ đẹp hiên ngang của
người chiến sĩ cách mạng ở thời đại thế kỉ 20.
Hai câu kết: Hình ảnh thơ kì vĩ, tráng lệ và lãng mạn kết
hợp với âm điệu nhịp nhàng, bay bổng rắn rỏi, thể hiện
lời nguyện thề dứt khoát, thiêng liêng với chính mình,
trước bạn bè, đồng chí và đồng bào. Lời nguyện biến
thành hành động, dạt dào niềm lạc quan, phơi phới niềm
tin
XUẤT DƯƠNG
( Xuất dương lưu
biệt)
Tổ 4
Nội dung thuyết trình
01
02
Tìm hiểu
chung
Tìm hiểu văn
bản
03
04
Content
You can describe the
topic of the section
here
Analysis
You can describe the
topic of the section
here
I. Tìm hiểu chung
1. Tác giả
-Phan Bội Châu (1867-1940) tên thuở nhỏ là Phan Văn Sản.
-Quê ở làng Đan Nhiễm, nay thuộc thị trấn Nam Đàn, huyện
Nam Đàn tỉnh Nghệ An.
-Cuộc đời:
+ Trước 1905: hoạt động trong nước.
+ Từ 1905-1925: hoạt động, bôn ba ở nước ngoài.
+ Từ 1925-1940: bị Pháp bắt giam và mất.
-Con người
+ Thông minh, học rộng
+ Là nhà Nho đầu tiên có tư tưởng tìm đường cứu nước
-Sự nghiệp văn chương
+ Khá đồ sộ: Việt Nam vong quốc sử (1905), Hải ngoại huyết thư (1906), Ngục trung
thư (1914), Trùng Quang tâm sử,…
-Quan niệm văn chương : “ Văn chương là vũ khí để tuyên truyền yêu nước và Cách
mạng”
Đặt nền móng cho thể loại trữ tình- chính trị, sử dụng văn chương, tiếng nói để đánh
kẻ thù.
Đánh giá chung
+ Sự nghiệp cứu nước của ông không thành nhưng tấm lòng yêu nước thiết
tha, nồng cháy của ông thì còn mãi với muôn đời.
+ Dù không xem văn chương là mục đích của cuộc đời mình nhưng nhiệm vụ
của người chiến sĩ cách mạng lại buộc ông cầm bút sáng tác phục vụ cho đấu
tranh cách mạng.
+ Với tư duy nhạy bén và và không ngừng đổi mới, tài năng sáng tạo đa
dạng , phong phú, Phan Bội Châu từng một thời làm rung động biết bao con
tim yêu nước bằng những vần thơ sục sôi nhiệt huyết của mình.
+ Trong vòng mấy chục năm đầu thế kỉ XX, Phan Bội Châu được coi là cây
bút xuất sắc nhất của văn thơ cách mạng.
II. Tìm hiểu văn bản
1. Hai câu đề: Quan niệm mới về chí làm trai của tác giả:
- Nếu đặt trong mạch nguồn của thơ ca trung đại, việc đề cập đến lý tưởng xã
hội này là điều rất dễ thấy. Danh tướng đời Trần Phạm Ngũ Lão đã từng đề
cập.
Công danh nam tử còn vương nợ,
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu
(Tỏ lòng – Phạm Ngũ Lão)
- Và đến với bài thơ ta lại bắt gặp lại về hình ảnh chí làm trai.
Làm trai phải lạ ở trên đời
Há để càn khôn tự chuyển dời
- Nhắc lại về chí làm trai: Cái chí của đấng nam nhi ở đây là công, là danh. Họ
trông vào đó mà tìm kiếm sự nghiệp, khẳng định bản thân mình trước cuộc đời,
trước mọi người.
Phiên âm
Dịch thơ
Sinh vi nam tử yếu hi kì
Khẳng định càn không tự chuyển di.
Làm trai phải lạ ở trên đời
Há để càn khôn tự chuyển dời
Câu thừa
: triển khai cụ thể ý câu trên bằng câu hỏi tu từ vừa là lời tự vấn, vừa là
•• Câu
pháđề
đề:
sự nhắc nhở:
--Con
được
đặtxoay
trong
mộtcàn
không
rộng lớn
khôn”
Điều người
lạ ấy chính
là việc
chuyển
khôn, gian
xoay chuyển
thời “càn
thế, không
thể buông
=>
làm
nổi
bật
hình
ảnh
con
người
trước
không
gian
kì
vĩ
xuôi cho số phận.
-Cảm hứng
sử thi,
lãng mạn
đãcủa
nângnam
tầm chí
làmPhải
trai lên
diện đờimạo mới.
-Khẳng
định
lẽ sống
đẹp
nhi:
lạ một
ở trên
nghĩa là phải
-Đặt trong bối cảnh ra đời bài thơ, hình ảnh đấng nam nhi mang tầm vóc vũ trụ ấy đã mở
biết
sống cho phi thường, hiển hách, phải dám mưu đồ việc lớn, kinh
đầu cho một khúc khải hoàn ca đầy hùng tráng, phi thường về ý chí và tinh thần yêu nước.
thiên
=>Tácđộng
giả nêuđịa.
lên quan niệm mới: là đấng nam nhi phải sống với khát vọng, mong muốn
làm nên điều kì lạ : “ yếu hi kì”, không cam chịu để cho trời đất xoay chuyển mình.
⇒ Tư thế, một tâm thế đẹp về chí nam nhi phải tin tưởng ở mức độ và tài năng của mình
⇒ Tuyên ngôn về chí làm trai.
2. Hai câu thực : Chí làm trai gắn với ý thức về cái tôi cá nhân.
Phiên âm
Dịch nghĩa
Ư bách niên trung tu hữu ngã
Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy.
Trong khoảng năm trời cần có tớ,
Sau này muôn thuở, há không ai?
-Khát tôi-ta
vọng tìm
cứu
nước
mãnh
liệt, lẽ sống vinh quang, không cam chịu cúi
-“Ngã”:
Cáiđường
tôi công
dân,
trách
nhiệm
đầu,
tin tưởng
thếcuộc
hệ
mai
tiếp
nốitrong
con đường
dựng
tảivào
hậu”:
Ngàn
năm
+ -“Thiên
Trách
nhiệm
trong
đời sau
hiện
tạisau
và
xã hội-lịch
sửnước, giữ nước.
-Trong
cảnh
đất
nước
sự
đô
củakhát
thực
dânmuốn
Pháp,phát
trải qua
sựvà
thất
cóchịu
tàigiả
khéo
đời
cổ
+ -“thùy”:
Từ ýhoàn
thứcTên
tráchngười
nhiệm
đó,
tác
thểhộ
hiện
vọng
huy hàng
hết tàiloạt
năng
chí
bại
của
các
phong
trào
yêu
nước
(tiêu
biểu
là
phong
trào
Cần
Vương)
Chí
sĩ
yêu
nước
khí,
muốnhỏi
cống
cho
đời,
danhnăm
thiên sau
cổ bằng
sự nghiệp
cứu
nước
cứu dân
-Câu
tuhiến
từ:
Lẽlòng->
nàolưu
ngàn
không
ai để
lại
tên tuổi
?
trở
nên
nhạt
nhòa,
nản
Bế
tắc,
không
tìm
được
đường
cứu
nước
=>Phù hợp với hoàn cảnh đất nước bấy giờ.
Hồi chuông
tỉnh, gửi
gắm văn
niềmhóm
tin vào
sausự hào hứng, hồ hởi khi đi tìm
- Bản
dịch thơ:cảnh
“tôi””tớ”
Giọng
hỉnh,thế
thểhệhiện
Nhận
đường xét:
cứu +Giọng
nước thơ đĩnh đạc, rắn rỏi
+ Thể hiện cái tôi trách nhiệm, lòng quyết tâm cứu nước,niềm tin vào
tương lai
3. Hai câu luận: Thái độ quyết liệt trước tình
cảnh đất nước
Phiên âm
Dịch thơ
Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế,
Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si!
Non sông đã chết, sống thêm nhục,
Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài!
3. Hai câu luận: Thái độ quyết liệt trước tình cảnh đất
nước
Non sông đã chết, sống thêm nhục,
-Thể hiện nhận thức của mình về thực trạng đất nước “non sông đã chết ” –
đất nước đã mất chủ quyền, đã rơi vào tay kẻ khác, tất cả những gì còn lại chỉ
là cái xác không hồn mà thôi.
-Tác giả đã bộc lộ trực tiếp cảm xúc của mình, cảm xúc của một người dân nô
lệ: nỗi nhục mất nước và thể hiện thái độ không cam chịu nỗi nhục ấy.
-Lẽ sống cao đẹp của thời đại được cô đúc trong lời thề quyết tử : “Thà chết
vinh còn hơn sống nhục”
3. Hai câu luận: Thái độ quyết liệt trước tình cảnh đất
nước
Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài!
-Nhận ra: sách vở thánh hiền không còn tác dụng gì trong thời cuộc mới của
đất nước (nước mất nhà tan)
-Phủ nhận nền học vấn Nho học (bản thân tác giả chính là con đẻ của nền học
vấn này, cho nên việc phủ nhận nền học vấn này chính là một thái độ vừa đau
đớn vừa quyết liệt .
→ Tư tưởng mới mẻ, táo bạo tiến bộ, tiên phong → Thái độ phủ nhận gay gắt
quyết liệt
Trong bản nguyên tác câu 6 là:
“kỉHiền
thánh
liêu
nhiên
diệcnghi
sĩ!” ngờ :
--Phan
Nguyễn
thếnhiệm
XIXvụ
cũng
từng
băntụng
khoăn,
BộiKhuyến
Châu đặt
giải đã
phóng
dân
tộc
lên
trước
hết. Ông nói bằng tất
Có nghĩa là:
“Sách
vởnhở
ích gì
cho
buổiphải
ấy đoạn tuyệt với lối học cử
cả nhiệt huyết và chân thành,
nhắc
mọi
người
“Thánh hiền đã
vắng
thì
có
đọc
sách
cũng
ngu thôi !”
Áo xiêm
thẹn mà
với phải
thânhăm
già;
tử, không thể đắm chìm trong
vòng nghĩ
hư danh,
hở đi tìm lí tưởng cao
Nghĩ
mình
cũng
gớm
cho
mình
nhỉ
cả.
- Chưa đến mức phủ nhận
tất cũng
cả giábia
lý Nho
gia
nhưng
đãvàng”.
cho thấy một quan
Thấy
xanh
cũng
bảng
-Trong
bài
carằng
chúcsách
tết thanh
niên
viết
vàogia
dịpđãTết
năm
kêu
điểm
rõBài
ràng
vở, đạo
đức
nho
từng
là 1927,
rườngcụ
cộtthiết
chotha
phong
gọi kiến
thanhViệt
niên: đã không còn có thể giúp ích được cho ta trong buổi nước
- Công
thànhNam
danh toại là thế, nhưng khi đất nước gặp ngoại xâm thì tất cả
chí từ nay xin gắng gỏi
mấtgì
nhà
tan. KhuyếnAicóhữu
những
Nguyễn
thể làm là cáo quan về ở ẩn, chỉ là nói được vài lời
Xếp
hút
nghiên
mà tu dưỡng
lấy tinh thần
- Ngược lại, nếu cứ khư
khư
nệlà
cũ,
chìm
“Đề
mấy
chữđắm
trêntrong
bia tư tưởng trung quân thì
Đừng
ham chơi, đừng ham mặc, ham ăn
chỉ làm mình ngu Rằng
thêm
mà thôi.
quan
nhà Nguyễn cáo về đã lâu”.
Dựng
gan
óc lên
đánhđược
tan sắt
- Tuy nhiên trong bản dịch thơ tác giả
chỉ nêu
rằnglửa
“học cũng hoài' mới
Xối
máu
nóng
rửa
vết
nhơ
nô
lệ…
chỉ nêuKhuyến
được sự
phủ tự
định
của
Châu
Nho
- Nguyễn
không
hào
vềPhan
hànhBội
động
cáovới
quan
vềhọc
ở ẩnchứ
màchưa
luôn làm
day dứt
Sống
như
thế
là
sống
đẹp.
Sống
như
thế
mới
mong
làm
nên
điều
lạ
ở
trên
đời,
nổilàbật
lên khí
tàng,là
dứt
của tác
mình
người
bất phách
lực, tựngang
nhận mình
kẻkhoát
thua cuộc
: giả.
mới
tựtự
khẳng
được:
Trong
khoảng
trăm
năm
cần
có
tớ. nhưng hé mở con
“Cờ
đang
dở
đang
còn
nước
⇒ Lời
bạchđịnh
về nỗi
đau
đớn,
xót
xa,cuộc
nỗi
tủi
nhục
mất
nước
Bạc chửa
thâu
canh đã chạy làng”
đường cách mạng rửa nhục
cho đất
nước.
4. Hai câu kết: Tư thế và khát vọng buổi
lên đường
Phiên âm:
Dịch thơ:
Nguyện trục trường phong Đông hải khứ,
Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi.
Muốn vượt bể Đông theo cánh gió
Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi
4. Hai câu kết Tư thế và khát vọng buổi lên đường.
Phiên âm:
Dịch thơ:
Nguyện trục trường phong Đông hải khứ,
Muốn vượt bể Đông theo cánh gió
Muốn vượt bể Đông theo cánh gió: Mong muốn cháy bỏng thực hiện khát vọng giải
phóng dân tộc.
-Hình ảnh “bể Đông” -> Không gian thiên nhiên, không gian vũ trụ bao la rộng lớn, con
đường đưa Phan Bội Châu thực hiện phong trào Đông Du.
-Từ “muốn” : mong muốn của tác giả: muốn đuổi theo ngọn gió dài đi qua biển Đông.
Mong muốn đạp bằng gian khó để thực hiện được khát vọng giải phóng dân tộc.
-So sánh bản dịch: Câu dịch thơ chỉ chú trọng đến ý vượt bể Đông mà không chú trọng
đến ý thơ. Nhà thơ ý thức được gian khó nhưng vẫn khao khát vượt qua, đuổi theo. Do
vậy bản dịch làm mất đi đôi chút về can trường, mạnh mẽ, lớn lao của nhân vật trữ tình
trong không gian bể Đông rộng lớn.
4. Hai câu kết Tư thế và khát vọng buổi lên đường .
Phiên âm:
Dịch thơ:
Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi.
Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi
Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi: Tư thế hiên ngang, hăm hở trong buổi lên đường.
-Hình ảnh: “thiên trùng”, “bạch lãng”: hình tượng thơ vừa kỳ vĩ, lớn lao vừa lãng mạn, thơ
mộng hòa nhập với con người trong tư thế cùng bay lên.
-Lối nói nhân hóa “muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi”: hình ảnh những con sóng bạc đầu
đưa tiễn nhân vật trữ tình trong buổi lên đường.
-So sánh phiên âm: Bản dịch thơ đã đánh mất cái tư thế trào lên, dâng lên, chỉ tái hiện
được không khí êm ả của buổi lên đường. Điều đó không phù hợp với không khí chung
của toàn bài, làm mất đi cái kì vĩ, hào sảng, đầy lãng mạn, hùng trángl của người chí sĩ
trong buổi lên đường.
Hình ảnh nhân vật trữ tình trong buổi lên đường thật đẹp,
thật hiên ngang, hào hùng giống như hình ảnh Từ Hải
trong buổi lên đường: “ Gió mây bằng đã đến kì dặm
khơi” (Truyện Kiều- Nguyễn Du)
Hình ảnh nhân vật trữ tình mang vẻ đẹp hiên ngang của
người chiến sĩ cách mạng ở thời đại thế kỉ 20.
Hai câu kết: Hình ảnh thơ kì vĩ, tráng lệ và lãng mạn kết
hợp với âm điệu nhịp nhàng, bay bổng rắn rỏi, thể hiện
lời nguyện thề dứt khoát, thiêng liêng với chính mình,
trước bạn bè, đồng chí và đồng bào. Lời nguyện biến
thành hành động, dạt dào niềm lạc quan, phơi phới niềm
tin
 







Các ý kiến mới nhất